TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày: 20-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Thịnh
- Ông Nguyễn Hồng Nguyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Vũ Khánh T, sinh năm 1962 tại Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; con ông Vũ Khánh T1 (đã chết) và bà Trần Thị Q (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị N, đã chết; có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
2. Phạm Thị T2, sinh năm 1975 tại Hưng Yên.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Lại Thị N1 (đã chết); Chồng: Phún Cỏn S, sinh năm 1974; có 03 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 45 phút, ngày 17/12/2023, tại nhà Vũ Khánh T thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Khánh T đang có hành vi tổng hợp số đề từ những người chơi đề.
Tang vật thu giữ gồm:
- 02 tờ phơi đề ghi ngày 17/12/2023;
- Số tiền 16.200.000 đồng; 01 cây viết bi;
- 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xám đen, có sim 0329890803.
Ngoài ra quá trình tạm giữ thu giữ của Phạm Thị T2 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh có sim số 0346.909.739. (Các bút lục 90; 99D)
Quá trình điều tra đã làm rõ được:
Do muốn kiếm tiền tiêu xài nên Vũ Khánh T bắt đầu đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô, đề từ khoảng năm 2022. Vũ Khánh T nhận lô, đề từ các người chơi bằng hình thức ghi trực tiếp tại nhà hoặc thông qua nhắn tin qua số điện thoại 0329.890.xxx. Hằng ngày, sau khi có kết quả xổ số của Công ty X và miền B, mỗi ngày sẽ có mỗi Công ty xổ số khác nhau mở thưởng, thì Vũ Khánh T sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng để trả tiền đánh bạc cho người chơi.
Hình thức chơi như sau: T và những người chơi thỏa thuận đối với số “đá” gồm 02 cặp số, 03 cặp số, 04 cặp số, mỗi cặp 02 con số, kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của tất cả các giải, trong đó có ít nhất 02 cặp số trùng trong các giải trùng với cặp số mà người chơi chọn thì thắng; “bao lô” hay còn gọi là “dọc”, gồm bao lô 02 con số và bao lô 03 con số, trong đó bao lô con 02 số kết quả thắng thua dựa vào số cuối của tất cả các giải, bao lô con 03 số kết quả thắng thua dựa vào số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy; “xỉu chủ” gồm con 03 số kết quả thắng thua dựa vào số cuối của giải bảy; “đầu – đuôi” gồm 02 con số kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của giải đặc biệt và giải tám.
Về tỉ lệ cá cược thì Đài miềm B và Đài miền N2 giống nhau: hình thức chơi số “đá” 02 cặp số có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 700.000 đồng, 03 cặp số là 2.100.000 đồng, 04 cặp số là 4.200.000 đồng; “xỉu chủ” và “bao lô” 03 con số có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 600.000 đồng, ở các hình thức còn lại thì có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 70.000 đồng.
Vào ngày 17/12/2023, Phạm Thị T2 sử dụng số điện thoại 0346.909.xxx nhắn tin vào số điện thoại của Vũ Khánh T để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề. Lúc 16 giờ 45 cùng ngày tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi Vũ Khánh T đang có hành vi tổng hợp phơi đề của các con bạc thì bị Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Thời điểm bắt quả tang người chơi chưa trả tiền ghi đề cho T và T chưa trả tiền thắng đề cho những người chơi đã trúng.
Quá trình điều tra xác định Vũ Khánh T thực hiện hành vi đánh bạc với Phạm Thị T2 và một số đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) bằng hình thức ghi số đề. Xác định số tiền T và T2 dùng vào việc đánh bạc vào ngày 17/12/2023 như sau:
- Phạm Thị T2 đánh bạc với Vũ Khánh T tổng số tiền đánh số lô, số đề Đài miền N2 là 12.215.000 đồng (trong đó gồm số tiền ghi đề là 8.365.000 đồng và trúng thưởng 3.850.000 đồng);
- Vũ Khánh T đánh bạc với các con bạc tổng số tiền đánh số lô, số đề Đài miền N là 24.138.000 đồng, (trong đó gồm số tiền ghi số lô, số đề đài Miền Nam với bị cáo T2 8.365.000 đồng; các con bạc khác 10.523.000 đồng; số tiền trúng đề là 5.250.000 đồng).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Vũ Khánh T và Phạm Thị T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng của vụ án:
- 02 tờ phơi đề ghi ngày 17/12/2023, chuyển cùng hồ sơ vụ án;
- 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xám đen, có sim số 0329890803; 01 cây viết bi, số tiền 16.200.000 đồng thu giữ của Vũ Khánh T và 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh có sim số 0346.909.739 thu giữ của Phạm Thị T2.
Cáo trạng số 59/CT-VKSTP-ĐN ngày 20 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Khánh T và Phạm Thị T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Vũ Khánh T từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Bị cáo Phạm Thị T2 từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị cáo T, bị cáo T2 thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng mô tả và không tranh luận, bào chữa cho hành vi của mình. Các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng mô tả. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Vào ngày 17/12/2023 tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Vũ Khánh T có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền là 24.138.000 đồng. Phạm Thị T2 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với Vũ Khánh T tổng số tiền 12.215.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo T, bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[5]. Về áp dụng hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Vũ Khánh T tham gia với vai trò là người khởi xướng, thực hành; Phạm Thị T2 tham gia với vai trò là người thực hành. Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo T phải cao hơn bị cáo T2.
Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
[6]. Về các biện pháp tư pháp:
- Bị cáo T2 thừa nhận số tiền bị cáo đánh bạc là 8.365.000 đồng nhưng bị cáo chưa đưa tiền cho bị cáo T, vì vậy buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 8.365.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 16.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xám đen bên trong có chứa sim số 0329.890.803; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh bên trong có chứa sim số 0346.909.739 là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 cây viết bi đây là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 tờ phơi đề là vật chứng vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7]. Những vẫn đề khác: Đối với các đối tượng tên “Tuyến”, “Qúy” trên địa bàn huyện T có mua số lô, số đề của Vũ Khánh T, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng hiện nay chưa có kết quả, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Khánh T và bị cáo Phạm Thị T2 phạm tội “Đánh bạc".
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Khánh T 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T2 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Về xử lý vật chứng:
- Buộc bị cáo Phạm Thị T2 phải nộp lại số tiền 8.365.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 16.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xám đen bên trong có chứa sim số 0329.890.803; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh bên trong có chứa sim số 0346.909.739
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây viết bi.
(Số tiền theo biên lai thu tiền số 0005558 ngày 27/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Khánh T và đồng phạm bị xét xử về tội "Đánh bạc"
