Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH K

———————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/9/2024

V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Hoa
  2. Ông Phạm Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K:

Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị P, sinh ngày 17/01/1993 (giấy chứng nhận kết hôn ghi sinh ngày 17/01/1994)
    Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh K
  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 13/6/1984
    Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh K
    (Chị P có mặt; anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị P trình bày:

Năm 2012 chị và anh T quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện chung sống như vợ chồng, đến ngày 06/5/2014 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện G, tỉnh K (giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/5/2014 ghi: Huỳnh Thị P, sinh ngày 17/01/1994, thường trú ấp V, xã V1, huyện C, tỉnh K).

Quá trình chung sống hơn 13 năm, có với nhau 02 đứa con nhưng tình cảm giữa hai anh chị không còn gắn kết nữa, bởi chồng chị sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con; anh T đi làm thì tiền bạc tự quản lý và tiêu xài cá nhân; không quan tâm gì đến vợ con để mặc chị tự lo lắng chăm sóc cho 02 đứa con. Anh T tự do làm gì thì tùy ý, còn chị thì vất vã nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con, sống trong tình trạng hôn nhân này chị vô cùng đau khổ... nếu kéo dài tình trạng hôn nhân này chị không sao chịu đựng nổi. Từ những nguyên nhân nêu trên chị nhận thấy giữa anh, chị không còn tiếng nói chung. Do đó anh, chị đã ly thân hơn một năm nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 đứa con là Phạm Lin Đ, sinh ngày 17/3/2013 và Phạm Gia T1, sinh ngày 09/8/2015. Hiện tại 02 con đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không tranh chấp tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phạm Văn T vắng mặt, nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 21 tháng 6 năm 2024, anh T có ý kiến trình bày:

Do quen biết anh và chị P tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện G, tỉnh K. Trong quá trình chung sống có 02 con chung, đứa lớn con gái sinh năm 2013; đứa nhỏ con trai sinh năm 2015. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Nay chị P yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý. Trường hợp Tòa án cho ly hôn anh yêu cầu mỗi người nuôi một đứa, anh yêu cầu nuôi đứa con trai, giao đứa con gái cho chị P; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa:

  • - Chị P: Vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; yêu cầu tiếp tục được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Anh T: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Huỳnh Thị P được ly hôn với anh Phạm Văn T. Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung là Phạm Lin Đ, sinh ngày 17/3/2013 và Phạm Gia T1, sinh ngày 09/8/2015 cho chị P nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do chị P không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, anh T vắng mặt nhưng theo biên bản ghi lời khai ngày 21/6/2024, anh T xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh đã vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T trong vụ án này.

- Tòa án nhân dân huyện A đã thụ lý vụ án và đã tiến hành các thủ tục pháp lý triệu tập đương sự đến Tòa án để tự khai; tiến hành phiên họp kiểm tra, việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Huỳnh Thị P và anh Phạm Văn T là hợp pháp, được UBND xã Th, huyện G, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 336 cấp ngày 06/5/2014. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên quen biết có tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị P nguyên nhân là do anh T sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con; anh T đi làm thì tiền bạc tự quản lý và tiêu xài cá nhân; không quan tâm gì đến vợ con để mặc chị tự lo lắng chăm sóc cho 02 con. Anh T tự do làm gì thì tùy ý, còn chị thì vất vã nuôi dưỡng, bảo bộc 02 con. Từ những nguyên nhân nêu trên chị nhận thấy giữa anh, chị không còn tiếng nói chung. Do đó anh, chị đã ly thân hơn một năm nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 21 tháng 6 năm 2024, anh T thống nhất với lời trình bày của chị P về quá trình tiến đến hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Và xác định theo yêu cầu của chị P, anh không đồng ý ly hôn; Trường hợp Tòa án cho ly hôn, anh yêu cầu nuôi đứa con trai, giao đứa con gái cho chị P nuôi dưỡng; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu gì.

Hội đồng xét xử xét thấy, anh T có ý kiến không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ, con nhưng anh không có biện pháp nào thể hiện khả năng đoàn tụ của anh, chị. Anh T bỏ mặc không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho lời trình bày của anh; không tham dự phiên tòa xét xử để thể hiện nguyện vọng của anh là muốn duy trì quan hệ hôn nhân của anh, chị. Đồng thời, từ khi ly thân hai anh, chị đã có thời gian để suy nghĩ nhưng vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Phía chị P thì kiên quyết xin ly hôn. Do đó, đã đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng của chị P và anh T đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị P xác định giữa chị và anh T có 02 con chung là Phạm Lin Đ, sinh ngày 17/3/2013 và Phạm Gia T1, sinh ngày 09/8/2015. Hiện do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị P yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị P và anh T ly thân đến nay do chị P nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Và theo xác nhận của ông Nguyễn Văn L - Trưởng Ấp X, xã Đ, huyện A xác định giữa chị P và anh T có 02 con chung, hiện do chị P đang nuôi dưỡng. Đồng thời, tại phiên tòa cháu Phạm Lin Đ và Phạm Gia T1 đều xác định có nguyện vọng được ở với chị P. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao 02 con chung là Phạm Lin Đ, sinh ngày 17/3/2013 và Phạm Gia T1, sinh ngày 09/8/2015 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, anh T không có ý kiến hay yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Huỳnh Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[7] Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị P được ly hôn với anh Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung là Phạm Lin Đ, sinh ngày 17/3/2013 và Phạm Gia T1, sinh ngày 09/8/2015 cho chị Huỳnh Thị P nuôi dưỡng. Anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị P không có yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004964 ngày 17/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị P đã thi hành xong phần án phí.
  5. Chị Huỳnh Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh K;
  • - VKSND huyện A;
  • - Chi cục THADS huyện A;
  • - UBND xã Thới Quản;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Ngọc Giàu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Huỳnh Thị P và Phạm Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger