|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày: 18-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Cư
- Bà Trần Nguyệt Mai
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an Q1: Ông Phan Văn D - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Q - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai theo hình thức trực tuyến Vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 (điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân Quận 5 và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an Q1), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ngọc Phát T, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1991, tại: Sóc Trăng; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: H N, Phường 1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn Á (đã chết) và bà Nguyễn Thanh D1 (đã chết); không có anh, chị, em ruột; không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q1 (bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ - Công an Q1 của phiên tòa).
Bị hại: Bà Đỗ Thị Phượng H, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: 3 A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, Nguyễn Văn N Phát Tài đi bộ từ Quận H qua địa bàn Quận E với mục đích tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. T đi vào hẻm S A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Lầu 2 phía sau nhà số C A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Đỗ Thị Phượng H không khóa cửa. Lúc này, T leo lên Tầng 2 của nhà 312/2 An Dương V đi vào trong nhà. Khi đi xuống Lầu 1 Tài phát hiện 03 ba lô gồm 02 balo màu đen và 01 balo màu hồng, để trên ghế sofa gần sát cửa. Tài kiểm tra 01 balo màu đen không có nhãn hiệu thì thấy được bên trong gồm có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook, 01 máy tính bảng màu hồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, T lấy ra 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax cất giấu trong túi quần, rồi mang 03 balo trèo qua cửa Lầu 2 đi xuống để tẩu thoát. Sau đó T đi về phòng trọ tại số H N, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, bà Đỗ Thị Phượng H phát hiện tài sản đã bị trộm cắp nên đến Công an P, Quận E trình báo vụ việc. Qua truy xét, phát hiện được T đang ở số H N, Phường 1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên tiến hành đưa T về trụ sở làm việc. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thụ lý giải quyết.
Tại cơ quan điều tra, tài khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp các tài sản như nêu trên và khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản một mình, không có ai khác tham gia cùng.
Bị hại bà Đỗ Thị Phượng H khai nhận vào lúc 01 giờ hơn sáng ngày 22/01/2024 bà vắng nhà nhưng qua hệ thống camera phát hiện nhà tại địa chỉ số C A, Phường C, Quận E bị đối tượng lạ mặt đột nhập trộm cắp tài sản. Khi quay về nhà kiểm tra thì phát hiện mất 01 máy tính xách tay hiệu Macbook, 01 máy tính bảng màu hồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax đựng trong 03 ba lô. Qúa trình điều tra, bà H đã nhận lại được các tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu vấn đề dân sự trong vụ án.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) ba lô màu đen không có nhãn hiệu; 01 (một) ba lô màu đen nhãn hiệu Moschino; 01 (một) ba lô màu hồng có hình con gấu; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Apple dòng Macbook Pro RETINA M1 có ốp nhựa, màn hình 13 inch, số IMEI: FUFG27WTQ05D; 01 (một) máy tính bảng hiệu Apple dòng Ipad GEN 10 màu đen có ốp màu hồng kèm bút cảm ứng dung lượng 64GB, số IMEI: KY77P29012X; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen có ốp màu hồng, dung lượng 256GB, số IMEI: 353896100537289; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S, số IMEI: 354551898343169; 01 (một) sơmi dài màu tím, không nhãn hiệu; 01 (một) quần thun dài màu đen hiệu Hứa Quân Anh S.
Tại Kết luận định giá số 06/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Ba lô màu đen xám, tình trạng đã qua sử dụng và cũ tại thời điểm định giá tháng 01/2024 không có giá trị; Ba lô vải, màu đen, nhãn hiệu Moschino, tình trạng đã qua sử dụng và cũ tại thời điểm định giá tháng 01/2024, không có giá trị; Ba lô vải màu hồng có hình con gấu màu hồng (không nhãn hiệu) đã qua sử dụng và cũ tại thời điểm định giá tháng 01/2024, không có giá trị; Máy tính xách tay hiệu Macbook Pro Pretina M1, màu nâu-xám, 13 inch cùng ốp nhựa, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 8.000.000 (tám triệu) đồng; Máy tính bảng hiệu Gen 10, màu hồng, dung lượng 64GB cùng bao da màu hồng, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 7.000.000 (bảy triệu) đồng; Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 256Gb, màu đen, cùng ốp lưng, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 8.000.000 đồng/chiếc”
Về phần trách nhiệm dân sự: Bà Đỗ Thị Phượng H không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKS-Q5 ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Phát T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Phát T về tội “Trộm cắp tài sản”. Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự không xem xét do không có yêu cầu; về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S, số IMEI: 354551898343169; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo sơmi dài màu tím, không nhãn hiệu; 01 (một) quần thun dài màu đen hiệu Hứa Quân Anh S.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với sự vắng mặt của bị hại là bà Đỗ Thị Phượng H tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bị hại đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về dân sự trong vụ án do đó sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Phát T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, tại nhà số C A, Phường C, Quận E, bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Phát T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) máy tính xách tay hiệu Apple dòng Macbook Pro RETINA M có ốp nhựa; 01 (một) máy tính bảng hiệu Apple dòng Ipad GEN 10 kèm bút cảm ứng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của bà Đỗ Thị Phượng H. Theo Kết luận định giá số 06/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Máy tính xách tay hiệu Macbook Pro Pretina M1, màu nâu-xám, 13 inch cùng ốp nhựa, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 8.000.000 (tám triệu) đồng; Máy tính bảng hiệu Gen 10, màu hồng, dung lượng 64GB cùng bao da màu hồng, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 7.000.000 (bảy triệu) đồng; Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 256Gb, màu đen, cùng ốp lưng, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% tại thời điểm định giá tháng 01/2024, có giá 8.000.000 đồng/chiếc”.
Như vậy, trị giá tài sản bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài chiếm đoạt là 23.000.000 đồng, có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
Xét bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên với lỗi cố ý do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm.
[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, cần xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo chưa thu lợi bất chính, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) ba lô màu đen không có nhãn hiệu; 01 (một) ba lô màu đen nhãn hiệu Moschino; 01 (một) ba lô màu hồng có hình con gấu; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Apple dòng Macbook Pro RETINA M1 có ốp nhựa, màn hình 13 inch, số IMEI: FUFG27WTQ05D; 01 (một) máy tính bảng hiệu Apple dòng Ipad GEN 10 màu đen có ốp màu hồng kèm bút cảm ứng dung lượng 64GB, số IMEI: KY77P29012X; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu đen có ốp màu hồng, dung lượng 256GB, số IMEI: 353896100537289 là tài sản của bà Đỗ Thị Phượng H bị chiếm đoạt, đã được thu hồi trả lại cho bà H là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S, số IMEI: 354551898343169. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - 01 (một) áo sơmi dài màu tím, không nhãn hiệu; 01 (một) quần thun dài màu đen hiệu Hứa Quân Anh S. Xét đây là các vật dụng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì với những tài sản này nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề trách nhiệm dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 01 năm 2024.
2. Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,
- - Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S, số IMEI: 354551898343169;
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo sơmi dài màu tím, không nhãn hiệu; 01 (một) quần thun dài màu đen hiệu Hứa Quân Anh S.
(Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N Phát Tài phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Linh Sương |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (theft of property)
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Ngọc Phát T-Trộm cắp tài sản
