Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Châu Lê Hiệp P

sinh ngày 26/5/2001, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 18, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Bá H và bà Lê Thị Thanh H1; tiền sự: Ngày 11/3/2020, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đến ngày 27/4/2022, chấp hành xong; tiền án: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/3/2024 (có mặt).

Bị hại:

Lê Hoàng H2, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số G, ấp T, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - A Bu Bơ C, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp L, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
  • - Nguyễn Văn H3, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh An Giang) (vắng mặt).

Người làm chứng:

Khúc Thanh T, sinh năm: 1995; Lê Thị Thanh H1, sinh năm 1973; Đặng Thị Kim B, sinh năm 1958 (tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 11/11/2023, C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, màu xanh nhám, biển số 67G1-884.84 đến gặp H2 hỏi mua dầu gió. Do H2 hết dầu gió nên C đến khách sạn C2 tại tổ A, khóm C, phường V thuê phòng nghỉ ngơi, H2 cũng đi cùng C đến khách sạn. Tại đây, H2 nhiều lần mượn xe của C đi giao hàng. Sau khi mượn xe của C, H2 điều khiển xe đến huyện T (nay là thị xã T) để nhận hàng và chạy về thành phố C rủ Châu Lê Hiệp P1 đi huyện P giao hàng cùng H2 thì P1 đồng ý.

Khoảng 16 giờ ngày 13/11/2023, sau khi giao hàng cho khách xong, H2 rủ P1 đến nhà bạn của H2 ở gần chợ chơi và dự định sau đó mang xe về trả cho C. Tại đây, P1 được H2 giao xe đi mua nước về uống. P1 lấy xe chạy đi, trên đường đi Phố nhớ lại việc H2 không trả tiền công cho P1 đi giao hàng nên P1 bực tức điều khiển chạy về nhà P1 ở khóm C, phường C B, thành phố C để xe ở đây. Khoảng 09 giờ ngày 14/11/2023, do không có tiền trả góp mua máy lạnh nên P1 nảy sinh ý định cầm xe mô tô của H2 để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Phố mang xe đến tiệm Toàn T1 tại số C, Tôn Đức T2, tổ A, khóm H, phường V, thành phố C cầm xe với giá là 10.000.000 đồng. Phố thuê xe mô tô chở đến cửa hàng F trả tiền góp máy lạnh 3.000.000 đồng và trả tiền thuê xe 30.000 đồng, số tiền còn lại Phố tiêu xài cá nhân hết. Khoảng gần 01 tháng sau khi cầm xe, Phố liên hệ Nguyễn Văn H3, sinh năm 1986, cư trú ấp K, xã K, huyện A, tỉnh An Giang thỏa thuận với H3 ra tiệm chuộc lại xe và bán xe cho H3 giá 13.000.000 đồng. Sau đó, P1 dẫn H3 đến tiệm Toàn T1 chuộc lại xe với giá 12.500.000 đồng. Phố giao xe cho H3 và chưa nhận 500.000 đồng. Khoảng đầu tháng 3/2024, P1 được H3 cho biết xe môtô trên đã bị Công an xã K, huyện A thu giữ và P1 biết được thông tin Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C truy tìm Phố nên ngày 26/3/2024, P1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại kết luận định giá tài sản số 62/KL-ĐG ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, màu xanh đen, biển số 67D1 - 403.61; qua tra cứu số khung, số máy có biển số đúng là 67G1-884.84, chủ sở hữu là A Bu Bơ C. Trị giá 30.000.000 đồng.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H4 Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKSCĐ-HS ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Châu Lê Hiệp P1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Châu Lê Hiệp P1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, ông C xác định đã nhận lại tài sản và yêu cầu bồi thường số tiền 12.000.000 đồng do mất thu nhập.

Bị cáo Châu Lê Hiệp P1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, không có ý kiến tranh luận; về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 12.000.000 đồng như theo yêu cầu của bị hại. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng diểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Châu Lê Hiệp P1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Châu Lê Hiệp P1 có trách nhiệm bồi thường cho cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan A Bu B2 Cơ số tiền 12.000.000đồng. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 biển số 67D1-403.61.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn H3 và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 13/11/2023, sau khi được bị hại H2 giao chìa khoá xe mô tô biển số 67G1-884.84 nhờ đi mua nước, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe mô tô biển số 67G1-884.84, trị giá 30.000.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Châu Lê Hiệp P1 đã phạm tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a

khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo Châu Lê Hiệp P1 là người nghiện ma tuý, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện; có 01 tiền sự: Ngày 11/3/2020, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đến ngày 27/4/2022, chấp hành xong. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích là chiếm đoạt được tài sản. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo Châu Lê Hiệp P1 phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án A Bu Bơ C đã nhận lại tài sản, yêu cầu bồi thường số tiền 12.000.000 đồng do mất thu nhập. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của A Bu Bơ C. Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án H3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với biển số 67D1-403.61 là vật có giá trị chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn H3 khi mua xe mô tô do C1 Lê Hiệp P1 bán, H3 không biết tài sản do P1 chiếm đoạt của người khác mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H3 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Châu Lê Hiệp P1 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Châu Lê Hiệp P1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/3/2024 (ngày hai mươi sáu tháng ba năm hai không hai mươi bốn).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 67D1-403.61 (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Châu Lê Hiệp P1 có trách nhiệm bồi thường cho cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan A Bu B2 Cơ số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với án phí) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Châu Lê Hiệp P1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan A Bu B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Nhà Tạm giữ TP. Châu Đốc;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger