|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 73/2024/DS-ST Ngày 17 tháng 5 năm 2024 V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Văn Long.
- Ông Nguyễn Văn Y.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trương Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 87/2024/TLST-DS ngày 12/3/2024, về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79A/2024/QĐXXST-DS ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: 2 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Quốc C – Chức vụ: Trưởng phòng G – Chi nhánh T (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Theo Quyết định uỷ quyền số 3525 ngày 25/12/2023).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 11/9/2023 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc C trình bày: Ngày 27/7/2019, ông Nguyễn Quốc V có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T, Phòng G với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thẻ, lãi suất quá hạn, thời hạn thanh toán và các thỏa thuận khác được quy định tại Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 89.760.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng được 63.247.562 đồng tiền nợ gốc, 35.315.336 đồng tiền lãi và phí. Từ ngày 22/8/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn do ông V vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 17/5/2024, ông V còn nợ Ngân hàng 28.767.311 đồng tiền nợ gốc, 8.574.106 đồng tiền lãi quá hạn.
Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông V có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 28.767.311 đồng, tiền lãi quá hạn là 8.574.106 đồng tạm tính từ ngày 22/8/2023 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử, tổng cộng là 37.341.417 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình tố tụng, ông V vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, ông V cũng vắng mặt.
Tại phiên tòa, ông C có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Quốc V yêu cầu trả số tiền nợ gốc, tiền lãi quá hạn của thẻ tín dụng tổng cộng là 37.341.417 đồng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa Ngân hàng và ông V là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại Điều 90, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Ông Nguyễn Quốc V vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đại diện Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 27/7/2019, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, ông Nguyễn Quốc V được Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T, Phòng G cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích, lãi suất thẻ và các thỏa thuận khác được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và các văn bản khác có liên quan. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 89.760.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng được 63.247.562 đồng tiền nợ gốc, 35.315.336 đồng tiền lãi và phí. Khoản nợ còn lại, ông V chưa thanh toán cho Ngân hàng dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở. Ngày 22/8/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông V sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 17/5/2024, ông V còn nợ Ngân hàng 28.767.311 đồng tiền nợ gốc. Do ông V vi phạm sự thỏa thuận trong hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu ông V trả số tiền nợ gốc còn thiếu là 28.767.311 đồng khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở.
[4] Về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 27/7/2019 thì giao dịch giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh T, Phòng G và ông V là hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi là có cơ sở. Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu tính tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất trong hợp đồng, thời hạn tính lãi quá hạn từ ngày 22/8/2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Do đó, cần áp dụng mức lãi suất theo mức lãi suất trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 27/7/2019 và các văn bản khác kèm theo. Tính từ ngày 22/8/2023 đến thời điểm xét xử, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn ông V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng là 8.574.106 đồng.
Từ những phân tích trên, cần buộc ông Nguyễn Quốc V có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng là 28.767.311 đồng + 8.574.106 đồng = 37.341.417 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được Hội đồng xét xử chấp nhận nên Ngân hàng được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Buộc ông Nguyễn Quốc V trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 37.341.417 đồng (Ba mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm mười bảy đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 18/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 27/7/2019, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và các văn bản khác có liên quan đến Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng.
- Về án phí: Ông V phải chịu 1.867.070 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 736.000 đồng theo biên lai số 0010940 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang. - VKSND huyện Châu Thành. - Chi cục THADS huyện Châu Thành. - Đương sự. - Lưu./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Vũ |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
