|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73 /2024/HS-ST Ngày: 16 -7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tính
- Ông Vũ Hùng Tuấn
- - Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84 /2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Phan Văn N, sinh ngày 10/3/1967 tại V, Phú Thọ; Nơi cư trú:
Tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn  (Đã chết) và bà Hoàng Thị Í, sinh năm 1940; Vợ: Hoàng Thị C (Đã chết);Vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1974; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2002;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Quyết định số 7423/QĐ-UBND, ngày 01/8/2011 của Chủ tịch UBND thành phố V về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh đối với Phạm Văn N1. Ngày 06/6/2013, N1 đã chấp hành xong.
Bản án số 222/2016/HS-ST ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. N1 thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 17/9/2018. N1 đã thi hành xong khoản xung công và án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/11/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/3/2024 đến ngày 22/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V. (Có mặt)
2. Họ và tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 04/11/1989 tại V, Phú Thọ; Nơi cư
trú: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Y (đã chết)và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không
Tiền án:
- + Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 30/5/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thái thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 18/01/2020.
- + Bản án số 26/2021/HS-ST ngày 03/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thái thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 15/01/2023.
Nhân thân: Quyết định số 01/2013/QĐ-XPVPHC ngày 06/12/2013 của Công an thành phố V xử phạt Thái 750.000 đồng về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy”, T đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/3/2024 đến ngày 22/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị S - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, tại khu vực tổ A, khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện và kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, trú tại: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp 01 gói giấy đang cầm ở tay phải có đặc điểm là 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là gói ma túy heroin của T mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ gói ma túy trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Messtel
vỏ màu vàng đã cũ, số IMEI 354432110281406 không có nắp ốp pin phía sau, kèm 01 sim số: 0348.586.608.
Cơ quan điều tra- Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T. Tại Kết luận giám định số 384/KLGĐ ngày 21/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
"Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,157 gam, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Hoàn trả lại 0,121 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Về nguồn gốc gói ma tuý, T khai nhận mua của một người đàn ông tên Phan Văn N, sinh năm 1967 ở khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đối với Phan Văn N sau khi bán 01 gói ma tuý cho T với giá 200.000 đồng đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, N cầm 02 gói ma tuý đi ra khu vực gần nhà thuộc tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, mục đích có ai hỏi mua thì bán với giá 200.000 đồng một gói. N đang đứng được một lúc thì Tổ công tác khác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện và kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N tự giác giao nộp 02 gói giấy có đặc điểm là 02 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc bên trong cả 02 gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận đây là số ma tuý của N tàng trữ mục đích để bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ 02 gói ma túy trên. Ngoài ra còn tạm giữ của N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ, số imei 862849064750349 kèm 01 sim số 0349773197.
Cùng ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn N tại tổ A, khu B, phường V, thành phố V. Quá trình khám xét, thu giữ trong túi áo khoác tại phòng ngủ của N: 03 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc bên trong cả 03 gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng; Tiền Việt Nam 200.000đồng.
Ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột bột cục màu trắng thu giữ của Phan Văn N. Tại Kết luận giám định số 383/KLGĐ ngày 21/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
-Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy niêm phong ghi vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phan Văn N gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,195 gam, loại Heroine;
-Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 03 gói giấy niêm phong ghi vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp đối với Phan Văn N gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,243 gam, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Hoàn trả lại 0,091 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định bì niêm phong vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phan Văn N; Hoàn trả lại 0,145 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định bì niêm phong vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp đối với Phan Văn N.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn N và Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Khoảng 16 giờ ngày 17/3/2024 Phan Văn N đi xe khách từ thành phố V xuống khu vực gần trường Tiểu học thuộc phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, N gặp người đàn ông khoảng 50 tuổi, N chỉ biết tên là T1. N hỏi mua được của T1 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý Heroine với giá 1.000.000đồng. Sau khi mua được ma tuý N bắt xe khách về nhà và mở gói ma tuý tách lấy một phần sử dụng cho bản thân. Phần ma tuý còn lại N chia thành 06 gói đều có đặc điểm gói bằng giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc bên trong cả 06 gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin rồi cất vào túi áo của N để tại phòng ngủ mục đích để bán với giá 200.000đồng/01 gói. Đến khoảng hơn 08 giờ ngày 18/3/2024 N đang đứng ở cổng nhà N thì có Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, trú tại: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đến gặp và hỏi mua của N 200.000 đồng tiền ma tuý heroin. N đồng ý bán và nhận tiền của T rồi vào nhà lấy đưa cho T 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. T cầm gói ma tuý vừa mua được của N đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Còn N sau khi bán ma tuý cho T, N về nhà, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày N cầm 02 gói ma túy đi ra khu vực gần nhà xem có ai hỏi mua để bán tiếp ma túy thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra T còn khai nhận, ngày 17/3/2024 T mua ma tuý của một người không quen biết ở khu vực ngã ba Đền H thuộc xã H được 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng. Số ma tuý này T đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với N và T, kết quả N, Thái dương t với chất ma tuý. Do đó, Công an
thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo.
Về vật chứng, tài sản của vụ án: 02 bì niêm phong số 383, 384/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Messtel vỏ màu vàng đã cũ, số IMEI 354432110281406 không có nắp ốp pin phía sau, kèm 01 sim số: 0348.586.608 thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ, số imei 862849064750349 kèm 01 sim số 0349773197 thu giữ của Phan Văn N. Vật chứng và tài sản trên và số tiền 200.000 đồng là tiền N bán ma tuý cho T mà có đang tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án thành phố V.
Tại bản Cáo trạng số: 69/CT – VKS-VT ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- - Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn N1 từ 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 18/3/2024.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 18/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Messtel vỏ màu vàng đã cũ, số IMEI 354432110281406 không có nắp ốp pin phía sau của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ, số imei 862849064750349 của Phan Văn N.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy: 02 bì niêm phong số 383, 384/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 sim số: 0348.586.608 thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 sim số 0349773197 thu giữ của Phan Văn N không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng của Phan Văn N do thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn N1 phải nộp theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T vì thuộc diện hộ cận nghèo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Thị S trình bày quan điểm bào chữa: Người bào chữa đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, hành vi phạm tội, loại hình phạt áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Các bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an thành phố V; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phan Văn N và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 08 giờ ngày 18/3/2024, tại khu B phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Phan Văn N sinh năm 1967 ở khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi bán trái phép khối lượng 0,157gam ma tuý Heroine cho Nguyễn Văn T được số tiền 200.000 đồng.
Hồi 11 giờ 30 ngày 18/3/2024, tại tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Phan Văn N có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,197 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị Tổ công tác khác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Ngoài ra, N còn có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,243 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích để bán tại nơi ở của mình tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Như vậy, N phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 0,597 gam ma túy Heroine gồm: Khối lượng 0,157gam ma túy Heroine bán cho T, khối lượng 0,197 gam ma túy H1 bị thu giữ khi bắt quả tang và khối lượng 0,243 gam ma túy Heroine khám xét thu giữ tại nơi ở.
Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, tại khu vực tổ A, khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn T sinh năm 1989 ở Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi tàng trữ 0,157gam ma tuý Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình xác minh nhân thân, tại Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 30/5/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, T thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 18/01/2020; Bản án số 26/2021/HS-ST ngày 03/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, T thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 15/01/2023. Tính đến ngày Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, T chưa được xóa án tích mà còn phạm tội mới với lỗi cố ý . Vì vậy, lần phạm tội này của Nguyễn Văn T là tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của Phan Văn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm 0 Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o) Tái phạm nguy hiểm”.
Do vậy, Quyết định truy tố đối với các bị cáo Phan Văn N và Nguyễn Văn T của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội phạm rất nghiệm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[3.1] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phan Văn N, Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng có nhân thân xấu. Bị cáo Phan Văn N đã bị Tòa án xét xử về hành vi phạm tội (đã được xóa án tích). Bị cáo Nguyễn Văn T có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới. Vì vậy, lần phạm tội này của T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhe trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.
[3.3] Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần tài sản. Vì vậy, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với tài sản đang tạm giữ của các bị cáo là điện thoại di động.
[5] Về xử lý vật chứng :
- - Đối với các tài sản của các bị cáo đang bị tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng do áp dụng hình phạt bổ sung nên cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với sim số điện thoại của các bị cáo không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng của Phan Văn N do thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T vì thuộc diện hộ cận nghèo.
[8] Đối với các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N và T, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với hai người đàn ông bán ma túy cho N và T ngày 17/3/2024, ngoài lời khai của N và T không có tại liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Phan Văn N.
Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T.
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo: Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phan Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Messtel vỏ màu vàng đã cũ, số IMEI 354432110281406 không có nắp ốp pin phía sau của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ, số imei 862849064750349 của Phan Văn N
3. Về xử lý vật chứng
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Phan Văn N do thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
Tịch thu để tiêu hủy:
- + 02 bì niêm phong số 383, 384/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định
- + 01 sim số: 0348.586.608 của Nguyễn Văn T; 01 sim số 0349773197 của Phan Văn N. (Theo quyết định chuyển vật chứng và biên bản giao nhận vật chứng, ngày 12/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Văn N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T vì thuộc diện hộ cận nghèo.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Văn N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
