|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/DS-PT Ngày 14-5-2024 “V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn và ông Nguyễn Văn Nghĩa
Thư ký phiên toà: Bà Đôn Minh Tiến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 94/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 124/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “Có mặt”.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, “Có mặt”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Văn C – Luật sư công ty L2, đoàn luật sư tỉnh P; địa chỉ: Số nhà D H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, “Vắng mặt”.
-
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1946,
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1946,
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1939,
- Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1985;
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974;
- Chị Nguyễn Thị L1; sinh năm 1979;
- Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1985;
- Đều cùng địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, “ Đều vắng mặt”.
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1941 (Đã chết ngày 19/2/2024).
- Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị C1 là anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị L1, chị Nguyễn Thị Kim T,
- Đ cùng địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, “Đều vắng mặt”.
- Bà Vũ Thị X, sinh năm 1948, “Có mặt”;
- Anh Nguyễn Tuấn C2, sinh năm 1980, “Có mặt”;
- Đều cùng địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà X: Ông Lê Văn C – Luật sư công ty L2, đoàn luật sư tỉnh P; địa chỉ: Số nhà D H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ,“ Vắng mặt”.
- Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1950;
- Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1944;
- Đều cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “Đều vắng mặt”.
- Bà Phan Tuấn D, sinh năm 1961; địa chỉ: TDP V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “Vắng mặt”.
- Ủy ban nhân dân huyện S;
- Địa chỉ trụ sở: Thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quang N1 – Chủ tịch UBND huyện S;
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Ngọc H2 – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện S (theo văn bản ủy quyền ngày 17/11/2022), “Vắng mặt”.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Tiến V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Tiến V trình bày:
Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn B (chết năm 1994) và cụ Nguyễn Thị T3 (chết năm 2011). Hai cụ sinh được 04 người con gồm: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị V1 và ông Nguyễn Tiến V, ngoài ra hai cụ không có con riêng, không có con nuôi nào khác. Khi còn sống, hai cụ tạo lập được khối tài sản chung, trong đó có thửa đất 511, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã C. Thửa đất này do các cụ khai phá, sử dụng liên tục từ trước những năm 1960, được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994, cụ B chết, cụ T3 quản lý sử dụng thửa đất này cùng với vợ chồng ông H. Năm 2011, cụ T3 chết, thửa đất do vợ chồng ông H quản lý sử dụng từ đó đến nay. Khi chết hai cụ đều không để lại di chúc.
Năm 1999, ông H tự ý kê khai thửa đất làm 02 phần, 01 phần cho ông H và 01 phần cho ông, đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc chia tách đất này vi phạm pháp luật, ông là người được cấp đất nhưng không hề hay biết, phần đất của ông lại không có lối đi. Do vậy, vào năm 2016, ông có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 phần đất nêu trên và Ủy ban nhân dân huyện S đã ra quyết định hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó.
Quá trình sử dụng và đo đạc thửa đất có sự sai lệch về số liệu diện tích đất: Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp năm 1999 thì thửa đất có diện tích 2.689m²; theo kết quả đo đạc mới nhất vào ngày 28/02/2024 thì thửa đất 511 (là thửa 44, tờ bản đồ 43) có diện tích 2624,5m² đất, gồm 2514,5m² tại thửa đất 511 (S1) và 110m² tại thửa đất 183 tờ bản đồ số 42. Diện tích 229m² tại thửa có ký hiệu S2 là đất nông nghiệp thuộc quyền quản lý của gia đình ông H không phải là di sản thừa kế của bố mẹ ông.
Diện tích đất 110m² có nguồn gốc ban đầu là của vợ chồng ông bà Nhung Huỳnh . Quá trình sử dụng đất, mẹ ông là cụ T3 đã đổi đất với vợ chồng ông N Huỳnh một phần diện tích đất thửa 511 ở phía trong vị trí giáp đất ông H1 và sau chuồng trâu. Khi đổi đất hai bên chỉ thỏa thuận miệng và sau khi hai bên đổi đất đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Năm 2018 ông làm thủ tục kê khai gộp vào để khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, Ủy ban nhân dân xã C đã hướng dẫn làm thủ tục chuyển nhượng từ vợ chồng ông bà Nhung Huỳnh sang cho ông, nên sau đó đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông đối với diện tích đất này. Tuy nhiên, ông xác định diện tích đất 110m² có nguồn gốc là của cụ B, cụ T3 (do đổi đất mà có) nên xác định là di sản thừa kế không phải là tài sản chung của ông và bà D, ông đề nghị Tòa án gộp chung với thửa đất liền kề (thửa 44 nêu trên), để chia thừa kế.
Ngoài diện tích đất nêu trên, cụ B, cụ T3 còn có diện tích 368m², tại thửa số 187, tờ bản đồ số 29 ở thôn G, xã C, huyện S. Năm 2000, cụ T3 có bán diện tích đất đó cho gia đình bà Nguyễn Thị C1 (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T1) với giá 1.000.000 đồng để cho ông tiền làm nhà. Khi mẹ ông bán đất thì không viết giấy tờ gì nhưng gia đình anh T1 đã sử dụng đất từ đó đến nay, hiện đã xây nhà và các công trình xây dựng kiên cố trên đất. Ông đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng, sở hữu thửa đất này cho anh T1. Do ông là người hưởng số tiền từ bán đất nêu trên nên ông đề nghị Tòa án sẽ trừ diện tích đất này vào kỷ phần đất di sản mà ông sẽ được chia.
Ngoài ra, ông V xác định di sản bố mẹ ông để lại còn có thửa đất vườn có diện tích 126m² tại khu vực Đ, thôn G, xã C (kết quả đo đạc là 116,9m²). Đối với nhà cấp IV và các công trình phụ trên đất ông xác định là của vợ chồng ông H, ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Đối với diện tích đất vườn 116,9m² thì ông tự nguyện để ông H được sử dụng toàn bộ diện tích đất này và tự nguyện không yêu cầu ông H phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông.
Ông V đề nghị như sau:
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất: 2624,5m² (gồm 02 thửa: 44, tờ bản đồ số 43 và thửa 183, tờ bản đồ 42), thửa đất 187 tờ bản đồ số 29 có diện tích 368m², diện tích vườn 126m² (đo thực tế 116,9m²) cho những người cùng hàng thừa kế là ông, ông H, bà V1, bà L. Do bà V1, bà L đều từ chối hưởng di sản nên các thửa đất nêu trên chia cho ông và ông H theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị đối trừ diện tích tương ứng với diện tích 368m² anh T1 đang quản lý sử dụng vào kỷ phần thừa kế mà ông được nhận. Nếu diện tích đất chia cho ông, có tài sản trên đất của vợ chồng ông H thì ông đồng ý sử dụng tài sản và thanh toán tiền cho vợ chồng ông H.
- Xác định quyền quản lý, sử dụng của anh T1 đối với 368m² đất tại thửa số 187, tờ bản đồ số 29.
- Đề nghị Tòa án xác nhận việc ông và ông H thống nhất để ông H được sử dụng toàn bộ diện tích đất 126m² (đo đạc thực tế116,9m²) và ông tự nguyện không yêu cầu ông H phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông.
- Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, năm 2019 ông có nộp tạm ứng chi phí để thẩm định, định giá tài sản, đo đạc diện tích đất nhưng tự nguyện chịu nộp và không đề nghị giải quyết trong vụ án. Năm 2023 ông có tạm ứng chi phí định giá lại tài sản là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Ông đề nghị giải quyết theo quy định, tuy nhiên, hiện nay ông đã trên 60 tuổi, nên đề nghị Tòa án miễn án phí sơ thẩm cho ông.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày: Ông xác định mối quan hệ huyết thống gia đình, tài sản của cụ B, cụ T3 để lại, quá trình quản lý, sử dụng như ông V trình bày là đúng. Ông cũng đồng ý với ông V về số liệu diện tích đất có sự sai lệch của những lần đo đạc và ông đồng ý sử dụng số liệu đo đạc mới nhất mà Tòa án đã thẩm định để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, về nội dung và yêu cầu khởi kiện của ông V thì ông có ý kiến như sau:
Diện tích đất tại thửa 511 mà ông V trình bày ở trên, từ năm 1986 bố mẹ ông đã chia tách đất cho ông và ông V. Bố mẹ ông chỉ mốc giới lấy chuồng trâu làm mốc, từ chuồng trâu ra phía đường dân sinh là của ông còn phần từ chuồng trâu trở về sau là của ông V. Sau đó ông trồng hàng cây mai làm ranh giới giữa phần đất của ông và của ông V. Khi cho đất thì bố mẹ ông chỉ nói bằng miệng không có giấy tờ gì. Gia đình ông ở ổn định trên đất từ đó đến nay. Năm 1999 khi Nhà nước có chính sách đo đạc đất cả thôn nên mẹ ông đã làm thủ tục chia tách đất cho hai anh em ông. Đến năm 1999 ông và ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể diện tích đất của ông được sử dụng là 1.445 m² trong đó 200 m² đất ở và 1.245 m² đất vườn; ông V được sử dụng diện tích 1.253 m² và diện tích 368 m² mà ông V đã bán cho bà T4 như ông V trình bày ở trên. Năm 2018, Ủy ban nhân dân huyện S đã quyết định thu hồi, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, do không hiểu biết pháp luật nên ông đã không khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đó, do vậy hiện nay quyết định đã có hiệu lực pháp luật và tổng diện tích đất nêu trên trở thành di sản cụ B, cụ T3 để lại và chưa có quyết định về việc chia di sản thừa kế.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông đề nghị như sau:
Ông xác định di sản của cụ B và cụ T3 để lại gồm 4 thửa đất trong đó thửa 511 chia hai phần như giấy chứng nhận đã cấp cho ông và ông V, thửa đất có diện tích 368 m² ông V đã bán cho anh T1 và thửa đất có diện tích 126 m² (đo lại 116,9 m²).
Đối với diện tích đất 110 m². Quá trình giải quyết vụ án ông đồng ý với quan điểm của ông V về việc gộp diện tích đất 110 m² (đất ông Văn đổi của vợ chồng ông bà N, H1) vào thửa đất để phân chia thừa kế. Sau khi bản án bị hủy ông đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông V với diện tích 110 m² và sau đó không đề nghị hủy giấy chứng nhận để anh em thỏa thuận. Tuy nhiên do anh em không thống nhất được nên tại phiên tòa ông H tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận mang tên ông V đối với diện tích 110 m² để trả lại đất cho ông bà Nhung Huỳnh .
- Xác định thửa đất 44, tờ bản đồ số 43 (trước đây là thửa 511, tờ bản đồ số 28) có diện tích đất 2514,5 m², thửa 183 của tờ bản đồ 42 (trước đây là thửa 512, tờ bản đồ số 28) có diện tích 110 m² là di sản và chia cho những người cùng hàng thừa kế là ông, ông V, bà V1, bà L. Do bà V1, bà L đều từ chối hưởng di sản nên thửa đất chia cho ông và ông V. Tuy nhiên, ông đề nghị chia thừa kế theo phương thức giữ nguyên hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp năm 1999 (hiện đã bị thu hồi, hủy bỏ) về diện tích, gianh giới vì đó là ý chí của cụ B, cụ T3 khi còn sống.
- Trường hợp Tòa án chia đất cho ông V mà trên đất có tài sản của vợ chồng ông, thì ông V phải trả tiền cho vợ chồng ông theo quy định. Ông đồng ý xác định quyền quản lý, sử dụng của anh T1 đối với 368m² đất tại tờ bản đồ số 29, thửa số 187. Đồng ý đối với diện tích đất vườn 126 m² sau này đo đạc thẩm định cụ thể diện tích là 116,9 m² để ông H được sử dụng toàn bộ diện tích đất và không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông V.Đối với diện tích 229 m² là đất nông nghiệp giao cho vợ chồng ông nên không phải là di sản thừa kế của cụ B và cụ T3. Về chi phí tố tụng ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Về án phí đề nghị Tòa án miễn án phí sơ thẩm cho ông vì hiện nay ông đã trên 60 tuổi.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị X, anh Nguyễn Tuấn C2, chị Nguyễn Thị Kim T, Chị Nguyễn Thị Bích T5, chị Nguyễn Thị Như Q trình bày: Các đương sự là vợ, con của ông H có lời trình bày và quan điểm giải quyết vụ án thống nhất với ông H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Xác định những lời trình bày của ông H, ông V về mối quan hệ huyết thống, di sản bố mẹ để lại, quá trình quản lý, sử dụng là đúng. Tuy nhiên các bà xác định không biết khi còn sống bố mẹ đã phân chia thửa đất chưa. Các bà cũng không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp như thế nào.
Nay ông V yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất của bố mẹ các bà để lại theo pháp luật thì các bà không có ý kiến gì để hai em quyết định. Phần của các bà được nhận thì các bà từ chối nhận và để lại cho ông H và ông V quản lý, sử dụng và không phải thanh toán chênh lệch tài sản.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết bà trình bày: Hai ông bà là vợ chồng, có thửa đất liền kề với thửa đất của cụ B, cụ T3 để lại. Hai bên gia đình có đổi đất cho nhau là đúng, việc đổi đất đã diễn ra từ lâu, các bên đã sử dụng ổn định nên không có ý kiến gì. Năm 2018 hai bên đã hoàn thiện thủ tục pháp luật về sang tên đất, nên các ông V, ông H gộp diện tích 110m2 đất (nguồn gốc của ông bà) để phân chia thì ông bà đồng ý và không có ý kiến tranh chấp gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm trình bày: Anh là con trai bà T4, là cháu họ của ông V, ông H. Gia đình anh có mua của cụ T3 368m² (đất vườn) như ông V, ông H trình bày là đúng. Việc mua bán diễn ra từ năm 2000 và gia đình sử dụng ổn định thửa đất từ đó đến nay.
Nay ông V yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đất của các cụ để lại thì anh đồng ý với quan điểm của ông V, ông H. Đề nghị Tòa án xác định quyền quản lý, sử dụng của anh đối với 368 m² đất nêu trên, anh sẽ làm việc và hoàn thành nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền quản lý, sử dụng thửa đất theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị C1 (Bà Nguyễn Thị C1 chết ngày19/2/2024), anh Nguyễn Xuân M, chị Nguyễn Thị Bình D1, chị Triệu Thị H3 đều là vợ, con, mẹ của anh T1 (đã ủy quyền cho anh T1) trình bày: Các đương sự đồng ý quan điểm trình bày của anh T1 về nội dung và đường lối giải quyết vụ án và không thay đổi bổ sung gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Tuấn D trong quá trình giải quyết vụ án có trình bày: Bà là vợ của ông V. Sau khi kết hôn với ông V do điều kiện công việc nên bà không ở cùng hai cụ, chỉ thi thoảng khi có công việc mới về thăm. Bà không biết cụ thể tài sản của hai cụ khi còn sống được tạo lập như thế nào. Việc chu cấp, hỗ trợ kinh tế cho hai cụ chủ yếu do ông V, bà không can thiệp. Về nguồn gốc diện tích đất 110m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông V năm 2018 là do cụ B cụ T3 đổi đất bằng miệng với ông bà Huỳnh N2 vào khoảng năm 1990 và sau đó hai bên gia đình sử dụng ổn định. Sau này giữa ông V và ông bà Nhung Huỳnh làm thủ tục như thế nào bà không rõ và bà không ký bất kỳ giấy tờ gì liên quan đến thửa đất này. Bà xác định đất đó không phải là tài sản chung của vợ chồng bà mà là di sản của cụ B và cụ T3. Bà đồng ý với quan điểm của ông V về việc giải quyết vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện S là bà Hoàng Thị Ngọc H2 trong quá trình giải quyết vụ án có quan điểm:
Năm 2017, giữa ông Nguyễn Tiến V và ông Nguyễn Văn H xảy ra tranh chấp đất. Ông V có đơn đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp cho ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tiến V vào năm 1999. Sau khi tổ chức kiểm tra, xác minh thực tế thấy nội dung ông V đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông V và ông H là có cơ sở. Ngày 27/7/2017, Ủy ban nhân dân huyện S đã ban hành Quyết định số 1491/QĐ –UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H, trú tại: Thôn G, xã C, huyện S, có số phát hành 0756342, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00265QSDĐ/349/QĐ-UB (H) đã được UBND huyện L phê duyệt tại Quyết định số 349/QĐ-UBND ngày 03/11/1999. Ngày 27/7/2017, UBND huyện S đã ban hành Quyết định số 1492/QĐ –UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Tiến V, trú tại: Thôn G, xã C, có số phát hành 0756634, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00308 QSDÐ/349/QĐ-UB(H) đã được UBND huyện L phê duyệt tại Quyết định số 349/QĐ-UBND ngày 03/11/1999. Việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ ông H và hộ ông V là đúng quy định pháp luật.
Luật sư Nguyễn Văn C3 – người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H, bà X có trình bày quan điểm:
Đồng ý với quan điểm của ông H về hàng thừa kế và xác định di sản phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được nên đề nghị Tòa án phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Về nội dung phân chia: Không đồng ý với quan điểm của nguyên đơn, bởi lẽ thửa đất đã được cụ B, cụ T3 phân chia từ khi các cụ còn sống, đã có ranh giới, diện tích đất cụ thể và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 (sau đó bị thu hồi); ông V cũng đã tiếp quản thửa đất, khai thác và sử dụng (chặt cây bán). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử nếu phân chia di sản thửa kế thì chia theo yêu cầu của bị đơn (ông H). Đề nghị giao cho bị đơn phần đất có nhà và các công trình xây dựng theo hiện trạng.
Các nội dung khác liên quan đến đổi đất (của bà N2, ông H1), bán đất (cho gia đình anh T1), luật sư C3 đồng ý với quan điểm của ông H. Bị đơn xác định di sản của cụ B và cụ T3 chỉ có diện tích 368 m², diện tích 126 m² (đo thực tế 116,9 m²) và toàn bộ diện tích thửa 511 (bản đồ 299) là 2.514,4m².
Đề nghị khi chia thừa kế xem xét công sức bảo quản, trông nom di sản, cũng như công sức chăm sóc các cụ của vợ chồng ông H.
Về chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Về án phí: Hiện ông H và bà X đã trên 60 tuổi, đề nghị miễn án phí sơ thẩm cho ông bà theo quy định.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ các Điều 609; Điều 610; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 620; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 157; Điều 161; Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến V.
- Xác định di sản thừa kế của cụ B và cụ T3 gồm: Diện tích 2514,4m² thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43, diện tích 110m² thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; diện tích 116,9m² thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42; diện tích 368m² thuộc thửa 187, tờ bản đồ số 29; đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Trích một phần trong khối di sản của cụ B và cụ T3 cho ông H về công giữ gìn, duy trì, bảo quản di sản là 200 m² đất vườn.
- Di sản của cụ B và cụ T3 còn lại được phân chia như sau:
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 116,9m² đất vườn thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ số 42 (VN B) và trên đất có 03 bụi tre (có các chỉ giới 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,1 (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 1513 m² (trong đó 100 m² đất ở, 1412 m² đất vườn) thuộc thửa 44 tờ bản đồ 43 (VN2000), (kí hiệu S3 có các chỉ giới 1A,2,3,4, 4A, 13A, 14,15,16,17,18, 38,39,40,41,42,1A; có sơ đồ kèm theo). Ông Nguyễn Văn H và bà Vũ Thị X được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền trên đất.
- Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích 110m² đất loại đất vườn thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42 (VN2000), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 794278 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 04/12/2018 cho ông Nguyễn Tiến V đứng tên. Địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông V được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền trên diện tích đất được chia: 01 cây trám, 01 bụi mai, 01 cây xoan, tường bao loan xây gạch (có các chỉ giới 7,8,9,10,11,7 có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích160,5 m² (trong đó 50 m² đất ở và 110,55 m² đất vườn) thuộc thửa 44, tờ bản đồ 43, (kí hiệu S4 có các chỉ giới: 4A, 5,6, 7, 11,12,13,13A, 4A; có sơ đồ kèm theo). Ông V được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền trên diện tích đất được chia: tường rào (1,04 m³), 01 giếng khơi, 02 cây cau; 03 cây na, 01 cây xoan.
- Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích 660 m² (trong đó 50 m² đất ở và 610 m² đất vườn) thuộc thửa 70, tờ bản đồ 43, tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (kí hiệu S1 có các chỉ giới 1, 1A, 42,43,35,34,31,32,33,1; có sơ đồ kèm theo). Ông V được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây gỗ tạp gắn liền trên diện tích đất được chia.
- Buộc ông V phải thanh toán cho ông H và bà Xuân t giá trị tài sản, cây cối là 20.510.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm mười nghìn đồng).
- Giao gia đình bà T4, anh Nguyễn Văn T1 được quản lý, sử dụng diện tích 368 m²(loại đất vườn) thuộc thửa số 187, tờ bản đồ 29, tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có các chỉ giới 1,2,3,4,5,1; có sơ đồ kèm theo). Gia đình bà T4, anh T1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục đăng ký, kê khai và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Xác định diện tích 180,9m² (đất vườn) là lối đi chung giữa gia đình ông Nguyễn Tiến V và gia đình ông Nguyễn Văn H (kí hiệu S2, có các chỉ giới 18,19,20,21,22,23,37,36,43,42,41,40,39,38,18; có sơ đồ kèm theo).Gia đình ông H có trách nhiệm thu hoạch cây cối tài sản trên đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/8/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Tiến V kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chia lại di sản thừa kế; tính lại phần công sức quản lý, duy trì di sản của ông H; chia lại chi phí tố tụng và xác định lại lối đi chung vì chưa đảm bảo chiều rộng tối thiểu 3.5m.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông V đề nghị do các đương sự không thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, nên ông giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị chia lại di sản thừa kế. Đối với thửa đất 368m² hiện ông T1 đang quản lý sử dụng, ông thay đổi quan điểm, ông không đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đối trừ vào diện tích đất kỷ phần thừa kế mà ông được nhận. Ông đề nghị được thanh toán bằng tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trình bày quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình; về phía các đương sự đã chấp hành đúng trách nhiệm của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông V, sửa bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng không giao cho gia đình bà C1, anh Nguyễn Văn T1 quản lý sử dụng diện tích 368m² (loại đất vườn) tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; chia lại di sản thừa kế cho ông V, ông H về diện tích và về vị trí đất được chia; giảm phần trích công sức cho ông H. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tiến V làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ vụ án:
[2.1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện:
Cụ Nguyễn Văn B (chết năm 1994) và cụ Nguyễn Thị T3 (chết năm 2011), khi chết hai cụ đều không để lại di chúc. Năm 2019, ông Nguyễn Tiến V khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B và cụ T3 để lại là quyền sử dụng đất các thửa đất: 1. Diện tích 2514,4 m² thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43, 2. Diện tích 110 m² thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; 3. Diện tích 116,9 m² thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42; 4. Diện tích 368 m² thuộc thửa 187, tờ bản đồ số 29; đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp chia di sản thừa kế” và trong thời hiệu khởi kiện là đúng quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về diện và hàng thừa kế:
Cụ Nguyễn Văn B và cụ Nguyễn Thị T3 có 04 người con gồm: bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị V1 và ông Nguyễn Tiến V, các cụ không có con riêng, con nuôi nào khác, bố mẹ của cụ B, cụ T3 cũng đã chết trước khi cụ B và cụ T3 chết. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B, cụ T3 gồm: Bà L, ông H, bà V1, ông V là có căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự.
Bà L, bà V1 đều từ chối nhận di sản thừa kế, đề nghị để lại cho ông H và ông V quản lý, sử dụng và không phải thanh toán chênh lệch tài sản. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự, không bị pháp luật cấm, việc từ chối di sản của bà V1, bà L không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác nên cần được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chỉ chia di sản thừa kế của cụ B và cụ T3 cho ông V và ông H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 620 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về di sản thừa kế:
Cụ B, cụ T3 chết không để lại di chúc. Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất di sản thừa kế của cụ B, cụ T3 để lại là quyền sử dụng đất các thửa đất: Thửa thứ nhất có diện tích 2514,4m² thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; thửa thứ hai có diện tích 110m² thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; thửa thứ ba có diện tích 116,9m² thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42; thửa thứ 4 có diện tích 368m² thuộc thửa 187, tờ bản đồ số 29; đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Tiến V khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B và cụ T3 để lại là quyền sử dụng đất có diện tích sau khi đo đạc thực tế là 2624,5m² (gồm 2 thửa có diện tích là 2514,5m² và 110m²) tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với thửa đất có diện tích 368m² hiện anh T1 đang quản lý sử dụng ông đề nghị công nhận quyền sử dụng đất cho anh T1. Đối với thửa đất vườn có diện tích đo thực tế là 116,9m² hiện ông H vẫn đang quản lý sử dụng, ông V đề nghị chia cho ông H, ông không đề nghị thanh toán chênh lệch tài sản.
Trên thửa đất số 511 có ngôi nhà cấp IV 5 gian, 03 gian nhà ngang, khu vệ sinh, nhà bếp nấu củi đã cũ hỏng, 03 gian chuồng bò đã cũ hỏng, 01 sân gạch, 01 lối đi vào nhà lát gạch, 01 mái tôn nhà cấp 4. Các đương sự thống nhất toàn bộ tài sản này là của vợ chồng ông H, nguyên đơn không yêu cầu thanh toán hay chia thừa kế đối với tài sản trên đất.
Đối với thửa đất 183 diện tích 110m² có nguồn gốc ban đầu là của bà N2, ông H1 nhưng đã được gia đình hai bên trao đổi và sử dụng ổn định, hợp pháp, liên tục từ trước những năm 1999. Diện tích đất mà cụ T3 đã đổi cho ông bà Nhung H4 là thuộc một phần đất phía sau của thửa 511. Sau khi cụ T3 chết, năm 2018 ông V hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đổi đứng tên ông V. Mặc dù tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông V và bà D nhưng cả bà D và ông V đều thống nhất xác định đây không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là thuộc di sản của cụ B cụ T3 để lại. Ông H cũng thống nhất xác nhận đây là di sản cả bố mẹ ông để lại. Do đó có căn cứ xác định diện tích 110m² là di sản thừa kế của cụ B, cụ T3.
Đối với nội dung ông V đề nghị xác định quyền quản lý, sử dụng của anh T1 đối với 368 m² đất tại thửa số 187, tờ bản đồ số 29 ở thôn G, xã C, huyện S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các đương sự đều thống nhất thừa nhận diện tích đất này đã được cụ T3 bán cho bà C1 là mẹ của anh T1 vào năm 2000, anh T1 đã sử dụng ổn định lâu dài từ đó cho đến nay, đã xây dựng nhà ở kiên cố trên đất không có tranh chấp với ai. Tuy bà C1, anh T1 chưa làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng việc mua bán có diễn ra trên thực tế, được mọi người công nhận, sau khi mua đất đã có quá trình sử dụng ổn định lâu dài, nên thửa đất có diện tích 368m² không còn được xác định là di sản thừa kế của cụ B và cụ T3. Tuy nhiên tại vụ án này, bà C1, anh T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng lại không có yêu cầu độc lập đề nghị công nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm giao gia đình bà C1, anh Nguyễn Văn T1 được quản lý, sử dụng diện tích 368 m²(loại đất vườn) thuộc thửa số 187, tờ bản đồ 29, tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc là thiếu sót. Nội dung này sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác nếu như gia đình bà C1, anh T1 có yêu cầu.
Như vậy xác định di sản thừa kế cần được phân chia trong vụ án này là quyền sử dụng đất các thửa đất: Thửa thứ nhất có diện tích 2514,4 m² thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; thửa thứ hai có diện tích 110 m² thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; thửa thứ ba có diện tích 116,9 m² thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42, đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
[2.4] Về xác định hạn mức đất ở trong di sản thừa kế:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất số 511 nay là thửa đất số 44 tờ bản đồ số 43 tại thôn G, xã C, huyện S có hạn mức đất ở 200m².
Thấy rằng, thửa đất 511 đã được cụ B, cụ T3 khai phá, sử dụng liên tục từ trước năm 1960, không có tranh chấp với các hộ giáp ranh, không thuộc đất quy hoạch, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên thuộc trường hợp được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai. Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 và khoản 1 Điều 10 Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND tỉnh V ban hành quy định về giao đất xây dựng nhà ở không qua đấu giá quyền sử dụng đất ở, hạn mức công nhận diện tích đất ở và tích chia, tách thửa đất ở tối thiểu; hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, quy định:
“Điều 10. Hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân
Hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh được thực hiện như sau:
- Đối với khu vực nông thôn:
- Các xã khu vực đồng bằng tối đa không quá 200m².
- Các xã khu vực trung du tối đa không quá 300m².
- Các xã khu vực miền núi tối đa không quá 400m².”
Tại Văn bản số 5355/UBND-KT2 ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh V về việc phê duyệt danh mục các xã đồng bằng, trung du, miền núi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đã xác định xã C, huyện S là xã thuộc vùng trung du. Như vậy hạn mức đất ở tối đa của thửa đất 511 không được quá 300m². Bản án sơ thẩm xác định thửa đất số 511 nay là thửa đất số 44 tờ bản đồ số 43 tại thôn G, xã C, huyện S có hạn mức đất ở 200m² không trái với quy định pháp luật, tuy nhiên để đảm bảo hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, làm lợi cho các đương sự mà không vi phạm quy định của pháp luật thì cần xác định hạn mức đất ở của thửa đất 511 được tối đa là 300m². Vì vậy nội dung kháng cáo này của ông Nguyễn Tiến V có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về phân chia di sản thừa kế:
Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 116,9m², tại thửa 243, tờ bản đồ số 42 (VN2000) và trên đất có 03 bụi tre; thuộc thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 1.513m² (trong đó 100m² đất ở, 1.413m² đất vườn) tại thửa 44 tờ bản đồ 43 (VN B), thuộc thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (kí hiệu S3 theo sơ đồ chi tiết kèm theo). Ông Nguyễn Văn H và bà Vũ Thị X được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền với đất;
Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích 110m² loại đất vườn thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 794278 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 04/12/2018 cho ông Nguyễn Tiến V đứng tên. Địa chỉ thửa đất: thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ kèm theo).
Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích 160,5m² (trong đó 50m² đất ở và 110,5m² đất vườn) thuộc thửa 44, tờ bản đồ 43 (VN2000), tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (kí hiệu S4 có sơ đồ kèm theo). Ông V được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền trên diện tích đất được chia.
Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quản lý, sử dụng diện tích 660m² (trong đó 50m² đất ở và 610m² đất vườn) thuộc thửa 511 nay là thửa 70, tờ bản đồ 42 (VN B), tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (kí hiệu S1 có sơ đồ kèm theo). Ông V được quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ cây cối, tài sản gắn liền trên diện tích đất được chia.
Xác định diện tích đất 180,9m² (đất vườn) là lối đi chung giữa gia đình ông Nguyễn Tiến V và gia đình ông Nguyễn Văn H (kí hiệu S2, có sơ đồ kèm theo). Ông H có trách nhiệm thu hoạch cây cối lâm lộc trên đất.
Thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân chia phần diện tích đất ông V được hưởng ở 02 phần đất tách biệt nhau là không phù hợp và bất tiện trong quá trình quản lý, sử dụng. Việc chia di sản thừa kế của cấp sơ thẩm như vậy đã làm manh mún thửa đất, không đảm bảo giá trị sử dụng đối với đất tại vùng nông thôn. Việc trích 180.9m² đất vườn để làm lối đi chung làm lãng phí di sản thừa kế trong khi có thể chia đôi đất theo hình thể tự nhiên của thửa đất.
Mặt khác Hội đồng xét xử thấy rằng, ông H ở trên đất tuy có công duy trì tôn tạo di sản, nhưng nhà của cụ B và cụ T3 xây dựng trước đây đã bị ông H phá bỏ và xây dựng nhà khác, ngôi nhà ông H hiện đang ở là nhà do ông H xây không phải là di sản của hai cụ để lại, trên đất cũng không có tài sản, không có cây cối lâm lộc có giá trị, hầu như vẫn giữ nguyên hiện trạng như lúc cụ B và cụ T3 còn sống. Việc Tòa án cấp sơ thẩm trích một phần di sản để thanh toán công sức duy trì di sản cho ông H là phù hợp, nhưng diện tích trích thì cần phải sửa cho phù hợp với công sức tôn tạo, duy trì tôn tạo di sản của ông H.
Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V về trích công sức tôn tạo, quản lý di sản thừa kế và cách chia di sản thừa kế. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng phải chia lại di sản thừa kế để phù hợp với hiện trạng thửa đất như sau:
Xác định di sản thừa kế của cụ B, cụ T3 là các thửa đất: Thửa thứ nhất có diện tích 2514,5m² (gồm 200m² đất ở và 2214,4m² đất vườn) thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; thửa thứ hai có diện tích 110m² (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; thửa thứ ba có diện tích 116,9 m² (đất vườn) thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42, đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo kết quả định giá xác định: Tại thửa 511 nay là thửa số 44, tờ bản đồ số 43, đất ở có giá 2.000.000 đồng/m² và đất vườn có giá 1.000.000 đồng/m² ; tại thửa 183 tờ bản đồ số 42, đất vườn có giá 1.000.000 đồng/m²; tại thửa 243, tờ bản đồ số 42, đất vườn có giá 150.000 đồng/m².
Trích diện tích 100m² đất (gồm 30m² đất ở và 70m² đất vườn) trong thửa đất 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43 của cụ B, cụ T3 để lại có giá trị [(2.000.000 đồng x 30m²)+ (1.000.000đồng x 70m²)]= 130.000.000 đồng cho ông H.
Di sản thừa kế của cụ B, cụ T3 còn lại để chia thừa kế là: Diện tích đất 2414,5m² (gồm 270m² đất ở và 2144,5m² đất vườn) thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; diện tích đất 11 m² (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; diện tích đất 116,9 m² (đất vườn) thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42; đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bà V1, bà L đã từ chối di sản thừa kế nên di sản thừa kế chia cho ông V và ông H.
Đối với nội dung ông V đề nghị cho ông H được quản lý thửa đất vườn 116,9m² (đất vườn) thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42 tại thôn G, xã C, huyện S không trái với quy định pháp luật, ông H đồng ý và không có ý kiến gì nên cần chấp nhận. Vì vậy chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 116,9m², tại thửa 243, tờ bản đồ số 42 (VN2000) và trên đất có 03 bụi tre; thuộc thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc có giá trị: (150.000đồng x 116,9m²) = 17.535.000 đồng. Ông H không phải thanh toán chênh lệch tài sản.
Ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tiến V mỗi người được quản lý, sử dụng diện tích 55m² loại đất vườn có giá trị: (55m² x 1.000.000 đồng) = 55.000.000 đồng, thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 794278 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 04/12/2018 cho ông Nguyễn Tiến V; địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tiến V mỗi người được hưởng 1207,25m² đất (gồm 135m² đất ở và 1072,25m² đất vườn) có giá trị: [(135m² x 2.000.000 đồng) + (1072,25m² x 1.000.000 đồng) = 1.342.250.000 đồng] thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43.
Ông H được hưởng 100m² đất (gồm 30m² đất ở và 70m² đất vườn) trong thửa đất 511 cho công sức tôn tạo, duy trì di sản nên ông H sẽ được quản lý phần đất có tổng diện tích 1307,25m² gồm 165m² đất ở và 1142,25m² đất vườn.
Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, kỷ phần được chia, nhu cầu thực tế của các bên, đồng thời căn cứ vào diện tích tách đất được quy định tại Quyết định 28/2016/QĐ-UBND ngày 18/5/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh V, cần chia cho ông H phần diện tích quyền sử dụng đất có nhà cấp 4, nhà bếp, chuồng bò và khu vệ sinh để ông H tiếp tục sinh sống, quản lý sử dụng. Cụ thể:
- Đối với thửa đất có diện tích 110m² chia như sau:
- + Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 57,8 m² loại đất vườn thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42 có mốc giới 7-8-8A-8B-7, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- + Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quyền quản lý, sử dụng diện tích 52,2m²loại đất vườn thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42 có mốc giới 8B-8A-9-10-11-8B, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Ông H được sử dụng 57,8m² thừa 2,8m² đất vườn so với tiêu chuẩn được hưởng do vậy ông H phải thanh toán chênh lệch tài sản tương ứng với diện tích thừa ngoài tiêu chuẩn cho ông V là: 2,8m² x 1.000.000 đồng = 2.800.000 đồng.
- Đối với thửa đất có diện tích 2514,5m² chia như sau:
- + Chia cho ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng 1304,45m² đất (gồm 165m² đất ở, 1139,45m² đất vườn) có giá trị 1.549.450.000 đồng và toàn bộ tài sản trên đất nằm trong mốc giới 7-8B-35C-35D-35B-1-2-3-4-5-6-7.
- + Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quyền sử dụng 1210,05m² đất (gồm 135m² đất ở; 1075,05m² đất vườn) có giá trị 1.345.050.000 đồng và toàn bộ tài sản trên đất nằm trong mốc giới 8B-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-23-37-36-35A-35-34-31-32-33-35B-35D-35C-8B.
Ông V được sử dụng thừa 2,8m² đất vườn so với tiêu chuẩn được hưởng do vậy ông V phải thanh toán chênh lệch tài sản tương ứng với diện tích thừa ngoài tiêu chuẩn cho ông H là: 2,8m² x 1.000.000 đồng = 2.800.000 đồng.
Đối trừ phần thanh toán chênh lệch tài sản, ông V và ông H không phải thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau.
Đối với các tài sản trên diện tích đất ông V được giao quản lý sử dụng gồm có:
- Các tài sản trên thửa số 183 có: 01 cây xoan trị giá 72.000 đồng; 01 đoạn tường bao loan dài 17,12m trị giá 4.742.240 đồng.
- Các tài sản trên thửa đất 511 có: 03 cây nhãn trị giá 2.160.000 đồng, 01 cây trám trị giá 360.000 đồng; 02 cây xoài trị giá 3.600.000 đồng; 01 cây mít trị giá 1.500.000 đồng; 02 cây na trị giá 1.050.000 đồng; 03 cây xoan trị giá 648.000 đồng; 01 bụi măng mai 15 cây trị giá 180.000 đồng; 03 cây lấy gỗ trị giá 216.000 đồng; 01 cây bóng mát (cây đa) trị giá 450.000 đồng; 01 đoạn tường bao loan dài 19,26m trị giá 5.335.020 đồng; 02 trụ cổng bằng gạch trát xi măng trị giá 2.470.350 đồng; cánh cổng sắt trị giá 3.252.000 đồng; 40,68m² phần diện tích lối đi vào nhà lát gạch chỉ trị giá 4.576.500 đồng.
Các tài sản trên đất chia cho ông V có tổng giá trị 30.612.110 đồng là do vợ chồng ông H, bà X xây dựng và tạo lập mà có nên khi giao đất cho ông V sử dụng thì cần buộc ông V phải có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản, cây cối trên đất là 30.612.110 đồng làm tròn 30.612.000 đồng cho vợ chồng ông H là phù hợp với quy định pháp luật.
Tổng số tiền tài sản, cây cối trên đất ông V phải thanh toán cho ông H là 30.612.000 đồng.
[2.5] Xét kháng cáo về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Tiến V tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa trình bày: Năm 2019 theo yêu cầu của Toà án, ông đã nộp ứng tiền thẩm định đo đạc với số tiền 6.000.000 đồng. Tuy nhiên ông không tự nguyện chi trả toàn bộ chi phí thẩm định, vì vậy đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền 2.000.000 đồng ông V tạm ứng để đo đạc thẩm định tại chỗ thửa đất 126m² (đo đạc thực tế là 116,9m²) năm 2023. Đây là thửa đất các bên thống nhất bị đơn được hưởng, do đó bị đơn là người hưởng lợi phải chịu khoản chi phí này không thể chia cho nguyên đơn. Khoản tiền bị đơn nộp chi phí đo đạc lại 7.300.000 đồng, phát sinh chi phí đo đạc lại là do yêu cầu của bị đơn, kết quả số liệu đo đạc các lần có sai số là do việc chỉ mốc giới của bị đơn nên bị đơn phải hoàn toàn chịu chi phí đo đạc này không thể chia cho các đương sự.
Nhận thấy: Tại biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 04/8/2023, ghi nhận ý kiến của ông V trình bày ông tự nguyện chịu nộp khoản chi phí thẩm định, định giá năm 2019 và không đề nghị giải quyết vụ án. Còn các khoản chi phí thẩm định khác thì do các đương sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm chia ông V, ông H mỗi người chịu ½ là có căn cứ. Do đó kháng cáo nội dung này của ông V không được chấp nhận.
[3] Từ phân tích nhận định trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Tiến V, sửa bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Tiến V phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn H số tiền 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại cấp sơ thẩm. Đối với chi phí thẩm định ông V nộp tại giai đoạn phúc thẩm, ông tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi đương sự phải chịu án phí trên kỷ phần của mình được hưởng. Ngoài ra phần công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản thừa kế mà ông H được hưởng do ông H là người thừa kế theo pháp luật nên ông H phải chịu án phí, tuy nhiên ông H, ông V thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông H, ông V được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nội dung kháng cáo của ông V được chấp nhận nên ông V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến V, sửa bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ các Điều 649, 650, 651, 660, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến V về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị T3.
- Di sản thừa kế của cụ B, cụ T3 được xác định là các thửa đất: Thửa thứ nhất có diện tích 2514,5m² (300m² đất ở; 2214,5m² đất vườn) thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; thửa thứ hai có diện tích 110m² (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; thửa thứ ba có diện tích 116,9m² (đất vườn) thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42, đều có địa chỉ tại: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Trích công sức quản lý, duy trì tài sản cho ông Nguyễn Văn H là 100m² đất (gồm 30m² đất ở và 70m² đất vườn) trong thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43. Di sản thừa kế của cụ B, cụ T3 còn lại để chia thừa kế là: Diện tích 2414,5m² (trong đó 270m² đất ở và 2144,5m² đất vườn) thuộc thửa 511 nay là thửa 44 tờ bản đồ số 43; diện tích 110m² (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ số 42; diện tích 116,9 m² (đất vườn) thuộc một phần thửa 557 + 558 tờ bản đồ số 28 nay là thửa 243, tờ bản đồ 42.
- Hàng thừa kế của cụ B, cụ T3 gồm: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị V1, ông Nguyễn Tiến V.
Ghi nhận sự tự nguyện từ chối di sản của bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị V1.
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 116,9m² đất vườn và toàn bộ tài sản cây cối trên đất, tại thửa 243, tờ bản đồ số 42 (VN2000) có mốc giới 1-2-3-4-5-6-7-8-9-1; địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Theo trích đo hiện trạng thửa đất tháng 6 năm 2023).
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quản lý, sử dụng diện tích 57,8m² đất (đất vườn) và toàn bộ tài sản cây cối trên đất, thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42 có mốc giới 7-8-8A-8B-7, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quyền quản lý, sử dụng diện tích 52,2m² đất (đất vườn) và toàn bộ tài sản cây cối trên đất, thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42 có mốc giới 8B-8A-9-10-11-8B, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng 1304,45m² đất (165m² đất ở; 1139,45m² đất vườn) trong đó đã bao gồm 100m² đất (30m² đất ở; 70m² đất vườn) trích công sức quản lý duy trì tài sản cho ông Nguyễn Văn H và toàn bộ tài sản cây cối trên đất, thuộc thửa số 511 nay là thửa số 44 tờ bản đồ số 43 có mốc giới 7-8B-35C-35D-35B-1-2-3-4-5-6-7, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chia cho ông Nguyễn Tiến V được quyền sử dụng 1210,05m² đất (135m² đất ở; 1075,05m² đất vườn) và toàn bộ tài sản cây cối trên đất, thuộc thửa số 511 nay là thửa số 44 tờ bản đồ số 43 có mốc giới 8B-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-23-37-36-35A-35-34-31-32-33-35B-35D-35C-8B, địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng tổng diện tích 1362,25m² đất (165m² đất ở; 1197,25m² đất vườn) theo chỉ giới 8-8A-8B-35C-35D-35B-1-2-3-4-5-6-7-8; trong đó có 1304,45m² đất (165m² đất ở; 1139,45m² đất vườn) thuộc thửa số 511 nay là thửa số 44 tờ bản đồ số 43; 57,8m² đất (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42; địa chỉ thửa đất: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Tiến V được quyền sử dụng tổng diện tích 1262,25m² đất (gồm 135m² đất ở; 1127,25m² đất vườn) theo chỉ giới 8A-9-10-11-12-13-14-15-16 - 17 - 18 - 19 - 20 - 21 - 22 - 23 - 37 - 36 - 35A - 35 - 34 - 31 - 32 - 33 - 35B - 35D - 35C - 8B - 8A trong đó có 1210,05m² (135m² đất ở; 1075,05m² đất vườn) thuộc thửa số 511 nay là thửa số 44 tờ bản đồ số 43; 52,2m² (đất vườn) thuộc thửa 183 tờ bản đồ 42.
(Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 28/02/2024).
Ông Nguyễn Tiến V phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn H 30.612.000 đồng tiền tài sản cây cối trên đất.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Tiến V phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn H số tiền 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL794278 do Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 04/12/2018 cho ông Nguyễn Tiến V. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định của bản án.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Tiến V và ông Nguyễn Văn H.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hiền |
||
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 73/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn Nguyễn Tiến T và bị đơn Nguyễn Văn H
