|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày 14-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn C, sinh năm 2002 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 05/02/2024; có mặt.
Bị hại: Anh Lưu Trung K, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số H T, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu nên Nguyễn Lan A, sinh ngày 30/7/2010, trú tại số D Tập thể A, phường Đ, quận N, Hải Phòng nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tối ngày 10/11/2023, Lan A bàn bạc với Trần Văn C (là bạn quan hệ xã hội) tìm cách mượn điện thoại của anh Lưu Trung K; sinh năm: 2004; Nơi cư trú: số H T, phường H, quận L, Hải Phòng để mang bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó Lan A nhắn tin rủ anh K đi ăn đồ nướng tại khu vực gần cổng trường N, anh K đồng ý và hẹn tan ca làm rồi đi.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Lan A và C thuê xe taxi đến quán C1 ở số A đường H, phường A, quận L, Hải Phòng đón anh K đi ăn đêm. Trên đường đi Lan A lấy lý do quên tiền ở nhà rồi bảo lái xe taxi chở về nhà lấy tiền. Khi xe taxi đi đến khu vực đầu ngõ B Chợ Đ, Lan A hỏi mật khẩu điện thoại và mượn điện thoại Iphone 11 Pro của anh K để gọi điện thoại cho mẹ mở cửa vào nhà lấy tiền. Lan A nói anh K và C ngồi trên xe taxi đợi. Sau đó, Lan A đi vào trong ngõ B Chợ Đ chờ C. Khoảng 15 phút sau, C bảo với anh K ngồi đợi ở xe taxi để C đi gọi Lan A cho nhanh. C đi bộ vào trong ngõ B chợ Đ1 gặp Lan A, cả hai đi bộ lối ngõ thông ra ngã 3 Đ, L, Hải Phòng rồi mang điện thoại của anh K đến đường T bán nhưng không bán được do điện thoại không có mật khẩu “Icould”.
Đến khoảng 22 giờ 45 phút anh K không thấy C và Lan A quay lại, nên đã mượn điện thoại của người lái xe taxi gọi vào điện thoại của anh K thì thấy báo điện thoại không liên lạc được. Sáng ngày 11/11/2023, anh K đến cửa hàng điện thoại “Zin Mobi” ở số D T, quận L, Hải Phòng (là cửa hàng anh mua điện thoại trả góp vào tháng 7/2023) của anh Phạm Văn H, sinh năm: 1997, đăng ký thường trú: T, T, V, Hải Phòng thông báo về việc anh K bị lừa mất điện thoại Iphone 11 Pro vào ngày 10/11/2023.
Sau khi không bán được điện thoại, Lan A và C đi xe taxi đến nhà nghỉ H2 ở số C L, quận K, Hải Phòng thuê phòng nghỉ. Do không có tiền nên Lan A đưa điện thoại của anh K để C đặt cho nhân viên nhà nghỉ là ông Vũ Văn H1, sinh năm 1962, đăng ký thường trú: Xã T, huyện A, Hải Phòng để làm tin thuê phòng và vay của ông H1 400.000 đồng trả tiền taxi, mua đồ ăn. Sau đó C lên phòng nghỉ còn Lan A đi về nhà bạn ngủ nhờ. Đến 07 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, C gọi điện thoại cho lái xe taxi là chị Phạm Thị V, sinh năm 1986, trú tại: Phường H, quận D, Hải Phòng đến nhà nghỉ H2 đón C. Khi gặp chị V, C vay của chị V 1.100.000 đồng để trả 700.000 đồng tiền nhà nghỉ và 400.000 đồng tiền vay của ông H1 và lấy lại điện thoại của anh K. Sau đó, C thuê chị V chở đi bán điện thoại nhưng không bán được vì điện thoại khóa “Icould” nên C đi về nhà nghỉ H2. Do không có tiền trả tiền vay và tiền cước taxi cho chị V nên C đưa điện thoại của anh K cho chị V giữ làm tin.
Đến ngày 17/11/2023, chị V đưa điện thoại của anh K cho chồng là anh Phạm Tiến Đ, sinh năm 1978, trú tại: Phường H, quận D, Hải Phòng sử dụng. Anh Đ đã mang điện thoại của anh K đến quán Z để xóa mật khẩu “Icould”. Anh H kiểm tra, phát hiện điện thoại anh Đ mang đến cửa hàng là điện thoại của anh K nên đã báo cho anh K đến cửa hàng và yêu cầu anh Đ đưa điện thoại của K đến trụ sở Công an phường N trình báo.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Điện thoại đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu đen, Imei: 353841102372984, dung lượng 64Gb, trị giá 9.350.000 đồng.
Ngày 17/11/2023 anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994, trú tại số D T, phường V và anh Bùi Huy L1, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã T, huyện K là những người lái xe taxi nhìn thấy C và Lan A ở khu vực bến xe N nên đã dẫn giải C và Lan A về trụ sở Công an phường N, quận L trình báo về việc C và Lan A đi xe taxi không trả tiền.
Tại cơ quan điều tra Trần Văn C và Nguyễn Lan A khai nhận có hành vi lừa đảo chiếm đoạt điện thoại của anh K như nội dung trên.
Về vật chứng trong vụ án: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro màu đen. Imei: 353841102372984, dung lượng 64Gb. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho anh K quản lý, sử dụng.
Đối với Nguyễn Lan A, khi thực hiện hành vi phạm tội mới 13 tuổi, 03 tháng, 10 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L khởi tố.
Đối với chị Phạm Thị V không biết chiếc điện thoại Iphone 11pro là do C phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Gia đình Trần Văn C đã thanh toán toàn bộ số tiền cước xe taxi còn nợ cho anh Nguyễn Đức P1 là 100.000 đồng và anh Bùi Huy L1 là 1.200.000 đồng. Anh P1 và anh L1 không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Gia đình Trần Văn C đã thanh toán cho chị Phạm Thị V toàn bộ số tiền 2.980.000 đồng gồm tiền cước taxi và tiền chị V cho C vay. Chị V không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Bản Cáo trạng số 89/CT-VKSLC ngày 16/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn C từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/11/2023, bị cáo Trần Văn C đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu đen trị giá 9.350.000 đồng của anh Lưu Trung K. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần Văn C về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần xét xử nghiêm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân bị cáo đã từng có thời gian phục vụ trong quân đội nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm, Lan A là người chủ mưu và thực hành trực tiếp. Do Lan A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L khởi tố. C là người giúp sức cho Lan A nên vai trò của C là thứ yếu.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của bị cáo trong vụ án là thứ yếu tham gia giúp sức như đã phân tích ở trên, vì vậy không cần thiết phải bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho anh Lưu Trung K, anh K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về các vấn đề khác:
[10] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bị cáo đang thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Văn C cho Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000Đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
