Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PL

TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh P

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/5/2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL– TỈNH BL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Tuấn
  2. Ông Mai Quốc Bảo

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. N đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp MT, xã HP, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)
  2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp MT, xã HP, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án Nguyên đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện sống chung từ năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HP và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/02/2009. Vợ chồng anh đã không sống chung với nhau hơn một năm nay do sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay anh S yêu cầu được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh S và chị T có hai người con chung là Nguyễn Trung N, sinh ngày 29/3/2002 và Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008, hiện đang sống với anh S. Anh S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008, đối với cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 29/3/2002 đã thành niên, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân nên anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh S không yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Trịnh Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với N đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S, cho anh S được ly hôn chị T.

+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008 cho anh S chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Đối với cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 29/3/2002 đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét giải quyết

+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Anh S phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh S khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị T, chị T đang cư trú trên địa bàn huyện PL nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PL thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh S có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh S và chị T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Anh S và chị T tự nguyện sống chung từ năm 2000 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị T là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, anh S vác chị T đã không sống chung với nhau hơn một năm nay, xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng anh S và chị T không sống chung với nhau trong một thời gian dài mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập chị T nhiều lần nhưng chị T vẫn không đến, như vậy chị T đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của anh S và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S, cho anh S ly hôn với chị T.

[4] Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của anh S thì anh S và chị T có hai người con chung là Nguyễn Trung N, sinh ngày 29/3/2002 và Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008, hiện đang sống với anh S. Đối với cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 29/3/2002 đã thành niên, có khả năng lao động để tự nuôi sống mình, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị T đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của anh S nhưng chị T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh S. Xét thấy, cháu Nguyễn Đại P sống cùng với anh S từ khi ly thân đến nay, hiện cháu P phát triển tốt. Đồng thời, tại biên bản lấy ý kiến ngày 21/3/2024 cháu Nguyễn Đại P có nguyện vọng sống cùng với anh S. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu P, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S: Giao cháu Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008 cho anh S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Trịnh Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Anh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn S ly hôn chị Trịnh Thị T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đại P, sinh ngày 13/6/2008 cho anh Nguyễn Văn S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Trịnh Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh S đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006675 ngày 04/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL nên được chuyển sang thu án phí.

Chị Trịnh Thị T không phải chịu án phí.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện PL;
  • - Chi cục THADS huyện PL;
  • - TAND tỉnh BL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL – TỈNH BL về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL – TỈNH BL
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger