|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-5-2024. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Quang Vinh.
- Ông Lê Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thế Nhân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1990 (vắng mặt có đơn xin vắng);
Nơi cư trú: Số E, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn là: Chị Trịnh Thanh T, sinh năm: 1977, Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 26/4/2024 (có mặt).
Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Phạm Quang T1, sinh năm: 1985 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Bà Bùi Thị Thu E, sinh năm: 1964 (vắng mặt có đơn xin vắng);
- Ông Phạm Văn L, sinh năm: 1962 (có mặt);
- Bà Mai Thị S, sinh năm: 1962 (vắng mặt có đơn xin vắng);
Cùng nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số A, ấp B, xã T, huyện C, Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2024 của chị Đoàn Thị Hồng Đ, đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 của anh Phạm Quang T1, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;
- Nguyên đơn chị Đoàn Thị Hồng Đ trình bày: Về hôn nhân: Chị Đ và anh T1 kết hôn trên cơ sở mai mối và tổ chức đám cưới năm 2022, đăng ký kết hôn ngày 25/02/2022 tại UBND xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải nên đã ly thân từ tháng 11/2023 đến nay nhưng không thể hàn gắn được, về con chung không có và nợ chung không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản: Anh T1 có giao cho chị Đ số tiền 240.000.000₫ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) từ tiền bán đất của cha mẹ anh T1 cho, ngoài ra anh T1 không giao cho chị Đ số tiền nào khác, anh T1 nói cho cá nhân chị Đ số tiền 240.000.000₫ để chi xài, làm chi phí tổ chức đám cưới. Trong quá trình chung sống với anh T1, chị Đ đã chi số tiền như sau: Tiền tổ chức đám cưới là 28.000.000đ; Tiền đi du lịch nhiều nơi là 40.000.000đ; Tiền chi phí trồng rẫy là 30.000.000đ; Tiền ăn uống sinh hoạt phí là 40.000.000đ; Tiền mở quán ở Long An là 109.000.000đ; Tiền thuê nhà mở tiệm mua bán là 84.000.000đ. Tổng cộng chi phí là 331.000.000đ (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng), chị Đ đã chi tiêu hết số tiền 240.000.000₫ của anh T1 đưa trong thời gian chung sống với anh T1. Đối với số tiền mặt 30.000.000đ và tiền bán cá 15.000.000đ, tổng cộng là 45.000.000đ chị Đ không biết và không có nhận số tiền này từ anh T1.
Nay chị Đoàn Thị Hồng Đ yêu cầu: Ly hôn với anh Phạm Quang T1, con chung không có, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản thống nhất có nhận số tiền 240.000.000đ từ anh T1 giao nhưng đã chi tiêu trong quá trình chung sống với anh T1 số tiền 331.000.000đ, hiện nay không còn giữ số tiền 240.000.000đ, riêng số tiền 45.000.000đ không có nhận từ anh T1 nên không đồng ý trả lại, không thống nhất trả lại cho anh T1 số tiền 285.000.000đ theo yêu cầu khởi kiện của anh T1. Đối với số tiền 91.000.000đ đã chi quá số tiền 240.000.000₫ từ tiền anh T1 giao chị Đ không có ý kiến hay yêu cầu anh T1 trả lại.
- Bị đơn anh Phạm Quang T1 trình bày: Về hôn nhân anh T1 và chị Đ quen biết thông qua Z, quen nhau khoảng 3 - 4 tháng thì tổ chức đám cưới ngày 18-19 tháng 11 năm 2022. Thời gian tổ chức tiệc cưới là ngay mùa dịch nên không có tổ chức bên nhà chị Đ, mà chỉ tổ chức tiệc tại nhà của cha mẹ anh T1 ở ấp N, xã A, bên gia đình chị Đ đưa dâu qua và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A ngày 25/02/2022. Về con chung không có và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản: Trước khi đám cưới anh T1 có rút tiền trong tài khoản cá nhân số tiền 30.000.000₫ giao cho chị Đào g, sau khi đám cưới anh T1 được cha mẹ là bà Thu E và ông L cho số tiền 240.000.000đ từ tiền bán đất, giao cho chị Đ 02 lần, lần thứ 1 anh T1 trực tiếp đưa cho chị Đ số tiền 100.000.000đ, lần thứ hai chị Đ đi đến nhà gặp cha mẹ anh T1 và anh T3 là người mua đất nhận số tiền còn lại là 140.000.000đ, tổng cộng là 240.000.000đ. Anh T1 có nuôi ao cá trước khi cưới chị Đ khoảng hai năm mấy, sau đám cưới anh T1 bắt cá bán, chị Đ kêu bán cá cho chú hoặc cậu chị Đ để phóng sanh số tiền bán cá là 15.000.000đ chuyển khoản trực tiếp cho chị Đ, nên anh T1 không có giữ tiền bán cá. Tổng cộng anh T1 giao cho chị Đ quản lý số tiền 285.000.000đ là tiền cá nhân của anh T1 mục đích giao tiền là để chị Đ mua lại đất ở Chợ M, An Giang cho anh T1. Anh T1 không có nghề nghiệp ổn định, anh T1 về bên nhà của chị Đ sống để mua bán tạp hóa và bán gạo được 01 năm, đến năm 2023 chị Đ yêu cầu anh đi Long An mua bán, do ở Long An có nhà của bà Mai Thị S là em ruột của mẹ chị Đ bỏ không, không ai ở, nên có hỏi bà S cho mượn nhà để mua bán, không có thuê nhà và mặt bằng mỗi tháng 7.000.000đ/tháng như lời trình bày của chị Đ và bà S, chị Đ vẫn ở nhà mua bán tạp hóa, khoảng 5-7 ngày mới đến Long An thăm anh T1.
Trong thời gian 02 năm chung sống anh T1 và chị Đ đã chi tiêu số tiền như sau: Tiền chụp hình là cưới là 4.000.000đ; Tiền thuê xe 07 chổ số tiền: 800.000đ; Tiền thuê đồ đám cưới: 3.000.000đ; Tiền đầu tư mua cây giống bán, tro trấu, cám dừa là 7.780.000đ; Tiền mua tol là 5.500.000đ; Tiền cát đổ nền là: 2.500.000đ; Tiền mua gạch, cát, xi măng là 1.500.000đ; Tiền thuê 02 người làm: 1.000.000đ; Tiền mua máy bơm hơi: 1.200.000đ; Tiền mua máy rửa xe là: 680.000đ; Tiền mua nồi cơm điện là: 230.000đ; Tiền mua máy quạt là 260.000đ; Tiền đi du lịch P và Côn Đ1 là: 6.000.000đ; Tiền chi phí trồng ớt được 1 tháng chết với số tiền là: 2.500.000đ, tổng cộng chi tiêu số tiền là 36.950.000₫.
Nay anh Phạm Quang T1 yêu cầu: Thống nhất ly hôn thuận tình ly hôn với chị Đ1, con chung không có, tài sản chung không có, nợ chung không có. Về tài sản riêng là số tiền 285.000.000₫ anh T1 giao chị Đ1 để mua đất nhưng chị Đ1 không mua. Anh T1 thống nhất số tiền chi tiêu trong thời gian sống chung là 36.950.000₫ nêu trên, nên anh T1 yêu cầu chia ½ số tiền đã chi tiêu trong thời gian chung sống là 36.950.000đ: 2 = 18.475.000đ, khấu trừ số tiền 285.000.000đ chị Đ1 đang giữ của anh T1, yêu cầu chị Đ1 trả lại số tiền 266.525.000₫ là tài sản riêng anh T1. Đối với ý kiến của chị Đ1 tổng chi phí chi tiêu trong thời gian chung sống là 331.000.000₫ anh T1 không đồng ý.
- Người làm chứng bà Mai Thị S trình bày: Bà S và anh T1, chị Đ1 do ở gần quen biết, không có mối quan hệ bà con. Bà S có cho chị Đ1 và anh T1 thuê nhà và mặt bằng để mua bán cà phê, cây trồng, sửa xe tại ấp B, xã T, huyện C, Long An, thời hạn thuê nhà là 1 năm, việc cho thuê không có làm giấy tờ chỉ thỏa thuận miệng, giá thuê mỗi tháng là 7.000.000đ, tháng nào trả tiền thuê tháng đó, thời hạn thuê từ tháng 1/2023 al, đến tháng 1/2024al, hiện đã trả nhà thuê lại cho bà S. Trả tiền thuê có lúc thì chị Đ1, có lúc thì anh T1, nhưng chị Đ1 trả tiền thuê cho bà S nhiều hơn.
- Người làm chứng bà Bùi Thị Thu E và ông Phạm Văn L trình bày: Ông bà là cha mẹ ruột của anh T1, còn chị Đ1 là con dâu. Chị Đ1 và anh T1 tổ chức đám cưới vào tháng 12/2022, khi đám cưới ông bà có hứa cho anh T1 số tiền bán đất là 240.000.000₫ nhưng không cho ngay tại đám cưới mà sau đám cưới 01 tháng là vào tháng 1/2023, ông bà và vợ chồng chị Đ1, anh T1 trực tiếp đến nhà của anh Quang T4 là người mua đất nhận số tiền bán đất, bà Thu E là người trực tiếp giao số tiền bán đất cho chị Đ1 và anh T1, chị Đ1 và anh T1 đem số tiền bán đất 240.000.000đ về Chợ M sinh sống, anh T1 đưa cho chị Đ1 số tiền 240.000.000₫ giữ nói là mua đất ở Chợ M nhưng không có mua, sau đó chị Đ1 nói cho vay thì không thấy tiền lãi nên vợ chồng phát sinh mâu thuẩn cho đến nay. Ông bà xác định số tiền 240.000.000đ của ông bà cho cá nhân của anh T1 để làm vốn làm ăn, còn gia đình của chị Đ1 cho cá nhân của chị Đ1 03 lượng vàng 24kra và 02 lượng vàng 18kra. Khi mới quen anh T1 có đưa cho chị Đ1 số tiền 30.000.000đ, tiền của anh T1 đi làm thuê ở P. Thời gian sau đám cưới khoảng 3 tháng là vào tháng 3/2023 chị Đ1 kêu anh T1 bán cho chị Đ1 ao cá do anh T1 nuôi với số tiền là 15.000.000₫ để phóng sinh cúng cho mẹ chị Đ1.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của chị Đoàn Thị Hồng Đ là chị Trịnh Thanh T trình bày: Về tài sản chung thống nhất có nhận của anh T1 số tiền 240.000.000đ, không có nhận số tiền 45.000.000đ và trong quá trình chung sống đã chi tiêu số tiền 331.000.000đ, trong đó có số tiền thuê nhà của bà S là 84.000.000₫ có lời khai của bà S làm chứng cứ, còn lại số tiền 247.000.000₫ không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh và cũng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác cho Tòa án.
Tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Quang T1 trình bày: Có giao cho chị Đ số tiền bán đất là 240.000.000đ, tiền cá nhân là 30.000.000đ và tiền bán cá là 15.000.000₫, tổng cộng là 285.000.000đ, anh T1 thống nhất khấu trừ số tiền anh T1 đã chi xài và đầu tư quán bán cà phê, cây trồng và rửa xe là 36.950.000đ, anh T1 bán tài sản đầu tư tiệm quán được số tiền 3.500.000đ, tổng cộng là 40.450.000đ, anh T1 thống nhất khấu trừ vào số tiền 285.000.000đ còn lại 244.550.000đ yêu cầu chị Đ trả lại cho anh T1.
Tại phiên tòa người làm chứng ông Phạm Văn L trình bày: Vợ chồng ông cho anh T1 số tiền bán đất 240.000.000đ là cho riêng anh T1, không phải cho chung vợ chồng anh T1, chị Đ.
Tại phiên tòa kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 91, 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Về hôn nhân đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh T1, về tài sản chung đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của anh T1, buộc chị Đ phải trả lại cho anh T1 số tiền (240.000.000₫ - 36.950.000₫ - 84.000.000₫ - 3.500.000₫): 2= 57.775.000đ, về con chung và nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Quang T1, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị Đ và anh T1, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T1, bị đơn anh T1 yêu cầu chia tài sản khi ly hôn, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và chia tài sản khi ly hôn. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[1.4] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đ và người làm chứng bà Thu E, bà S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự nêu trên được triệu tập hợp lệ đúng theo quy định và vắng mặt có lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ, bà Thu E, bà S là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đ và anh T1 là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống thường hay cự cãi, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được. Nay chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T1 và anh T1 thống nhất ly hôn với chị Đ. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị Đ và anh T1 không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị Đ và anh T1 chung sống với nhau được 02 năm, đến tháng 11/2023 phát sinh mâu thuẩn và ly thân cho đến nay, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đ và anh T1 là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Không có.
[2.3] Về tài sản: Bị đơn anh T1 yêu cầu chị Đ trả lại số tiền 285.000.000₫ là tài sản riêng của anh T1, hiện nay do chị Đ đang quản lý.
Bị đơn anh T1 khai trong quá trình chung sống với chị Đ không có tài sản chung, số tiền 285.000.000₫ là tài sản riêng của anh T1, trong đó số tiền mặt 30.000.000đ, tiền bán cá 15.000.000đ, tiền bán đất 240.000.000đ. Anh T1 thống nhất khấu trừ số tiền chi phí sinh hoạt, chi tiêu tổ chức đám cưới, đầu tư mua bán, đi du lịch, bán tài sản..., tổng số tiền 40.450.000₫ vào số tiền 285.0000.000đ, yêu cầu chị Đ trả lại cho anh T1 số tiền 244.550.000đ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Nguyên đơn chị Đ không thống nhất trả lại số tiền 244.550.000đ của anh T1, chị Đ thừa nhận có nhận của anh T1 số tiền 240.000.000đ tiền bán đất, đối với số tiền mặt 30.000.000đ và tiền bán cá 15.000.000₫ chị Đ không thừa nhận có nhận tiền từ anh T1. Số tiền 240.000.000đ là tài sản chung của vợ chồng do khi tổ chức đám cưới gia đình anh T1 tuyên bố cho vợ chồng chị Đ 04 công đất bán được số tiền 240.000.000đ, trong thời gian chung sống đã chi tiêu hết số tiền 240.000.000đ.
Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu khởi kiện của anh T1 yêu cầu chị Đ trả lại số tiền 244.550.000₫ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) là có cơ sở chấp nhận một phần như sau: Căn cứ lời khai của anh T1 và người làm chứng là ông L, bà Thu E cho rằng số tiền 240.000.000đ cho anh T1 là cho cá nhân của anh T1, không phải cho chung vợ chồng anh T1. Tuy nhiên, ông L, bà Thu E thừa nhận có tuyên bố tại đám cưới là cho anh T1 số tiền 240.00.000đ, nhưng không giao tiền ngay tại đám cưới mà sau khi đám cưới anh T1 và bà E trực tiếp giao số tiền 240.000.000đ cho chị Đ quản lý và chị Đ cũng thừa nhận có nhận của anh T1 số tiền nêu trên do cha mẹ anh T1 cho sau khi kết hôn với anh T1. Từ đó cho thấy số tiền 240.000.000₫ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của chị Đ và anh T1, anh T1 đã xác lập số tiền 240.000.000đ vào khối tài sản chung của vợ chồng bằng cách giao số tiền 240.000.000đ cho chị Đ quản lý và chi tiêu trong thời kỳ hôn nhân, anh T1 cũng thừa nhận chị Đ đã chi tiêu hết số tiền 36.950.000đ. Vì vậy, có cơ sở xác định số tiền 240.000.000₫ anh T1 giao cho chị Đ là tài sản chung của vợ chồng, nên tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi và tính đến công sức đóng góp của các bên theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình. Do số tiền 240.000.000đ được cha mẹ cho nên chị Đ và anh T1 không có công sức đóng góp để duy trì và phát triển khối tài sản chung, mặt khác anh chị đều không có lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, lý do mâu thuẩn là bất đồng quan điểm sống.
Đối với ý kiến của chị Đ về việc chi tiêu hết số tiền 240.000.000đ, chị Đ kê khai quá trình chung sống đã chi tiêu số tiền tổ chức đám cưới là 28.000.000đ; Tiền đi du lịch nhiều nơi là 40.000.000đ; Tiền chi phí trồng rẫy là 30.000.000đ; Tiền ăn uống sinh hoạt phí là 40.000.000đ; Tiền mở quán ở Long An là 109.000.000đ, tổng cộng là 247.000.000đ, nhưng chị Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho ý kiến của chị Đ nên không có cơ sở chấp nhận.
Đối với số tiền thuê nhà của bà Mai Thị S ở Long An để mở quán mua bán cây trồng, cà phê, sửa xe với giá thuê là 7.000.000đ/tháng, thời hạn thuê là 12 tháng, thành tiền là 84.000.000đ chị Đ đã trả cho bà S xong. Hội đồng xét xử xét thấy đối với số tiền thuê nhà 84.000.000₫ là có cơ sở chấp nhận một phần, do căn cứ lời khai của bà S khai tiền thuê nhà và mặt bằng là 7.000.000đ/tháng, căn cứ lời khai của chị Đ khai tiền mua vật tư trán nền, cất quán hết 32.000.000đ, phù hợp với lời khai của anh T1 là nhà do anh T1 xây dựng loại nhà gỗ tạp, lợp tol, anh T1 đã bỏ chi phí để mua tol, đổ cát, gạch, xi măng và thuê 02 người làm công. Vì vậy có căn cứ chứng minh anh T1 chỉ thuê mặt bằng để mua bán và nhà do anh T1 xây dựng, không phải nhà của bà S cho thuê. Vì vậy đối với giá thuê 7.000.000đ/tháng theo lời khai của chị Đ và bà S là chưa phù hợp với thực tế là chỉ thuê mặt bằng để mua bán, số tiền thuê mặt bằng quá cao so với mặt bằng chung, do địa điểm thuê thuộc xã T, huyện C, tỉnh Long An, không thuộc khu vực thành phố, nên Hội đồng xét xử điều chỉnh giá thuê cho phù hợp là 3.500.000đ/tháng x 12 tháng = 42.000.000₫ (Bốn mươi hai triệu đồng).
Đối với ý kiến của anh T1 cho rằng không có thuê nhà của bà S, nhà anh T1 tự xây dựng loại nhà gỗ tạp mái lợp tol và mặt bằng mua bán là do bà S cho mượn, do bà S có mối quan hệ bà con bạn dì ruột với chị Đ. Tuy nhiên, chị Đ và bà S không thừa nhận có bà con mà chỉ quen biết ở xóm, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của anh T1 về việc mượn nhà của bà S để mua bán.
Đối với yêu cầu của anh T1 buộc chị Đ trả lại số tiền 45.000.000đ, trong đó tiền mặt 30.000.000đ, tiền bán cá là 15.000.000đ, chị Đ không thừa nhận có nhận số tiền trên từ anh T1 và anh T1 không có cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu của anh T1, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản khi ly hôn của anh T1, tài sản chung là số tiền 240.000.000đ, khấu trừ số tiền chi tiêu trong thời gian chung sống là 40.450.000₫ anh T1 thừa nhận đã chi tiêu và số tiền thuê mặt bằng của bà S là 42.000.000đ chị Đ đã trả cho bà S, tổng cộng đã chi tiêu số tiền 82.450.000₫, còn lại 157.550.000đ chia đôi, chị Đ và anh T1 mỗi người được chia số tiền là 78.775.000₫ (Bảy mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Nguyên đơn chị Đoàn Thị Hồng Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và 3.938.000đ (Ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí chia tài sản khi ly hôn, tổng cộng là 4.013.000₫ (Bốn triệu, không trăm mười ba nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, chị Đ phải nộp thêm 3.713.000đ (Ba triệu, bảy trăm mười ba nghìn đồng).
Bị đơn anh Phạm Quang T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và phải chịu 3.938.000₫ (Ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí chia tài sản khi ly hôn, tổng cộng là 4.013.000₫ (Bốn triệu, không trăm mười ba nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.125.000đ, hoàn trả lại cho anh T1 số tiền 3.112.000₫ (Ba triệu, một trăm mười hai nghìn đồng).
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với một phần nhận định của với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đoàn Thị Hồng Đ và anh Phạm Quang T1.
- Về chia tài sản khi ly hôn: Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản khi ly hôn của anh Phạm Quang T1 đối với chị Đoàn Thị Hồng Đ với số tiền là 157.550.000đ (Một trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Chia cho anh Phạm Quang T1 được hưởng số tiền 78.775.000đ (Bảy mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Chia cho chị Đoàn Thị Hồng Đ được hưởng số tiền 78.775.000₫ (Bảy mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Buộc chị Đoàn Thị Hồng Đ phải giao trả lại cho anh Phạm Quang T1 số tiền 78.775.000₫ (Bảy mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Đoàn Thị Hồng Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và 3.938.000đ (Ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí chia tài sản khi ly hôn, tổng cộng là 4.013.000đ (Bốn triệu, không trăm mười ba nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 theo Biên lai số 0006357 ngày 23/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, chị Đ phải nộp thêm 3.713.000đ (Ba triệu, bảy trăm mười ba nghìn đồng).
Bị đơn anh Phạm Quang T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và phải chịu 3.938.000₫ (Ba triệu, chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí chia tài sản khi ly hôn, tổng cộng là 4.013.000₫ (Bốn triệu, không trăm mười ba nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp là 7.125.0000, theo B lại số 0006450 ngày 21/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, hoàn trả cho anh T1 số tiền 3.112.000đ (Ba triệu, một trăm mười hai nghìn đồng).
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 13/5/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
