|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE Bản án số: 73/2024/DS-ST Ngày: 13-5-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Hồng Vân.
- 2. Bà Võ Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri - Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST-DS ngày 09/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QÐST - DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐST - DS ngày 17 tháng 4 năm 2024) giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị D, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1959 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07/8/2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đinh Thị D trình bày:
Bà tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Thị Ngọc Đ làm chủ hụi:
Dây hụi khui ngày 01/3/2020, loại hụi 1.000.000 đồng, 33 phần, tham gia 02 phần, mỗi tháng khui 01 lần, hụi có lãi, hụi kêu giá chết, bà đóng mỗi phần 700.000đ/tháng. Bà đóng tiền hụi từ ngày 01/3/2020 đến ngày 01/9/2022, bà đóng được 29 lần (đã trừ 02 tháng dịch bệnh không có đóng). Tổng số tiền đóng hụi 40.600.000 đồng. Bà đã đóng còn 02 tháng nữa là mãn hụi. Bà Đ không có nhà nên bà không hốt hụi được.
Dây hụi ngày 01/3/2021, loại hụi 2.000.000 đồng, 20 phần, tham gia 02 phần, mỗi tháng khui 01 lần, hụi có lãi, hụi kêu giá chết, bà đóng mỗi phần 1.500.000đ/tháng. Bà đã hốt 01 phần vào ngày 10/5/2022; có giấy bà Đ giao tiền hụi, hụi chết bà đóng cho bà Đ đến tháng 9/2022 còn thiếu bà Đ 02 tháng hụi chết (do bà Đ đi không đóng được). Còn 01 phần hụi bà đóng đến tháng thứ 9 (từ ngày 01/3/2021 đến tháng 9/2022) là 17 lần (trừ 02 tháng dịch bệnh), bà đóng tiền hụi còn 01 tháng là mãn hụi. Hụi mãn vào tháng 10/2022. Tổng số tiền đóng 01 phần hụi sống 25.500.000 đồng. Bà còn thiếu bà Đ 02 tháng hụi chết 4.000.000 đồng. Sau khi trừ số tiền bà Đ thiếu là 25.500.000 đồng và tiền hụi chết bà thiếu của bà Đ là 4.000.000 đồng thì bà Đ còn thiếu bà là 21.500.000 đồng. Tổng 02 dây hụi bà Đ còn thiếu 62.100.000 đồng.
Bà tham gia chơi hụi với bà Đ, mỗi khi đóng tiền bà Đ có ký tên hoặc ghi chữ R (rồi), bà Đ giao tiền hụi thì bà Đ ghi giấy giao và bà Đ ký tên. Do bà Đ né tránh không trả tiền hụi nên bà khởi kiện yêu cầu bà Đ trả số tiền hụi 62.100.000 đồng.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
* Tại Tòa:
* Nguyên đơn bà Đinh Thị D trình bày: Các dây hụi bà tham gia do bà Nguyễn Thị Ngọc Đ làm chủ hụi gồm: Dây hụi khui ngày 01/3/2020, loại hụi 1.000.000 đồng, 33 phần, tham gia 02 phần, tổng số tiền đã đóng 40.600.000 đồng. Dây hụi ngày 01/3/2021, loại hụi 2.000.000 đồng, 20 phần, tham gia 02 phần; bà đã hốt 01 phần còn thiếu bà Đ 02 tháng hụi chết là 4.000.000 đồng, phần hụi sống bà đã đóng được 17 tháng là 25.500.000 đồng. Sau khi trừ số tiền bà Đ thiếu và tiền hụi chết bà thiếu của bà Đ thì bà Đ còn thiếu bà là 21.500.000 đồng. Bà tham gia chơi hụi với bà Đ thì mỗi khi đóng tiền bà Đ có ký tên hoặc ghi chữ R (rồi), bà Đ giao tiền hụi thì bà Đ ghi giấy giao và bà Đ ký tên. Nay bà yêu cầu bà Đ trả số tiền 62.100.000 đồng. Trường hợp bà Đ kéo dài không trả thì yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Qua lời trình bày của nguyên đơn bà Đinh Thị D, bà cho rằng có tham gia 02 dây hụi do bà Đ làm chủ hụi: Hụi khui vào ngày 01/3/2020, loại hụi 1.000.000 đồng và dây hụi khui ngày 01/3/2021, loại hụi 2.000.000 đồng. Tổng số tiền hụi bà Đ còn thiếu là 62.100.000 đồng. Do qua thời gian đóng hụi mà bà Đ không giao tiền cho bà D theo thỏa thuận nên bà D yêu cầu bà Đ trả số tiền hụi 62.100.000 đồng là phù hợp với sổ hụi và giấy ghi hụi có chữ ký của bà Nguyễn Thị Ngọc Đ. Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị D. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả cho bà D số tiền hụi 62.100.000 đồng. Án phí đương sự nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Đ là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị D yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả số tiền hụi 62.100.000 đồng. Trường hợp chậm trả thì yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Đinh Thị D cung cấp sổ hụi thể hiện bà tham gia chơi hụi do bà Đ làm chủ hụi, sổ hụi do bà Đ ghi và ký tên. Sổ hụi thể hiện: Dây hụi khui ngày 01/3/2020, loại hụi 1.000.000 đồng, tham gia 02 phần, bà D đóng hụi từ ngày 05/3/2020 đến ngày 01/9/2022 (trừ tháng 8, 9 dịch bệnh), bà D đóng được 29 lần; dây hụi ngày 01/3/2021, loại hụi 2.000.000 đồng, tham gia 02 phần; bà D đóng từ ngày 01/3/2021 đến ngày 01/9/2022 là 17 tháng (trừ tháng 8, 9 dịch bệnh), vào ngày 10/5/2022 bà D hốt hụi 01 phần hụi. Theo giấy giao tiền hụi ngày 10/5/2022 bà Đ giao cho bà D số tiền 30.300.000 đồng. Bà D thừa nhận còn thiếu 02 tháng hụi chết 4.000.000 đồng. Do đó, dây hụi ngày 01/3/2021 sau khi khấu trừ hụi chết thì bà Đ còn thiếu bà D là 21.500.000 đồng; dây hụi khui ngày 01/3/2020 bà D đóng được 29 lần mỗi lần 1.400.000 đồng số tiền là 40.600.000 đồng.
Bị đơn bà Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; điều đó đồng nghĩa với việc bà Đ tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu của bà D.
Xét do bị đơn bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ giao tiền hụi cho hụi viên bà Đinh Thị D nên bà D khởi kiện là phù hợp theo Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ nên được chấp nhận. Do đó buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà D số tiền hụi là 62.100.000 đồng.
[2] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí DS – ST: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí 62.100.000 đồng x 5% = 3.105.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, 468 Bộ luật dân sự; Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị D. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả cho bà Đinh Thị D số tiền hụi 62.100.000 đồng (Sáu mươi hai triệu một trăm ngàn đồng).
- Về án phí DS-ST: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu 3.105.000 đồng (Ba triệu một trăm lẻ năm ngàn đồng) và có nghĩa vụ nộp tại Chi cục thi hành án daân söï huyện B. Hoàn lại cho nguyên đơn bà Đinh Thị D số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.797.500 đồng (Một triệu bảy trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0006589 ngày 18/9/2023 của Chi cục thi hành án daân söï huyện B.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Niều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
