Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Võ Trọng Thơi.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đinh Đức H, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 08/7/1989 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Đ (chết) và bà Đinh Thị T (chết); vợ, con: Chưa có;

Nhân thân: - Năm 2007, bị Toà án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 06/2007/HSST, ngày 24/4/2007), bị cáo chưa chấp hành xong thì phạm tội mới.

- Năm 2008, bị Toà án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 58 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số: 16/2008/HSST, ngày 27/3/2008); tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án số: 06/2007/HSST, ngày 24/4/2007, bị cáo phải chấp hành là 70 tháng tù, tính từ ngày 18/10/2007. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/10/2012 và chấp hành xong tiền án phí HSST, án phí DSST vào tháng 3 năm 2011. Riêng phần tiền bồi thường dân sự chưa có đơn yêu cầu thi hành án.

- Năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 103/2013/HSST, ngày 26/11/2013); Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2017 và chấp hành xong tiền án phí HSST, án phí DSST vào tháng 02 năm 2014. Riêng phần tiền bồi thường dân sự chưa có đơn yêu cầu thi hành án.

- Năm 2019 bị Toà án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 39 tháng tù, về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 06/2019/HSST, ngày 28/03/2019); Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/3/2022; chưa chấp hành tiền án phí HSST, tiền án phí tịch thu và tiền phạt.

Tiền án: có 03 tiền án.

Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/5/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Võ Văn P, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 15/11/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số B đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N và bà Võ Thị N1; vợ: C sống như vợ chồng với chị Lê Thị Thanh H1; con: Có 01 con sinh năm 2024;

Nhân thân: N2 ở với gia đình và học đến hết lớp 11/12 thì nghỉ, ở nhà phụ giúp gia đình sau làm nghề đầu bếp cho đến ngày phạm tội.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/7/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Ngô Thị H2, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Văn C1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số F đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Huỳnh Thị T1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

+ Bà Phan Thị Kim H3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số D đường T, tổ A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

+ Anh Hồ Văn H4, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn V, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 13/5/2024, Đinh Đức H rủ Võ Văn P đi cướp giật tài sản lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75D1- 072.45 (xe H thuê của ông Đặng Văn C1, sinh năm 1968, trú tại số F N, phường P, thành phố H), chở P đi về hướng thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, trên đường đi H dùng cờ lê tháo biển số xe mô tô ra cất vào trong cốp xe để tránh phát hiện.

Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày, H chở P chạy đến đoạn đường Q (gần trạm thu phí P1), thuộc thôn H, xã T, thị xã H, Thừa Thiên Huế. Lúc này, cả hai phát hiện phía bên kia đường Quốc lộ 1A có bà Ngô Thị H2, sinh năm 1973, trú tại thôn H, xã T, thị xã H, Thừa Thiên Huế, đang ngồi trước cửa hàng tạp hoá ở sát đường; H điều khiển xe chở P đi qua đường để tiếp cận bà H2; H, P, thấy bà H2 đang ngồi trên ghế nhựa và đang xem điện thoại, trên cổ bà H2 có đeo 01 sợi dây chuyền màu vàng (bà H2 khai sợi dây chuyền là vàng tây, gồm nhiều mảnh hình chữ M nối lại với nhau, mặt sợi dây chuyền có hình bông hoa, trên có đính hạt chất màu đỏ và nhiều hạt chất màu trắng, mua năm 2023 tại tiệm V ở chợ P2, với giá khoảng 15.000.000 đồng, có tổng trọng lượng 4,08 chỉ); H dừng xe lại và nói với P điều khiển xe mô tô và đứng chờ, rồi H đi bộ đến phía sau lưng bà H2, dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền vàng của bà H2 (trong khi giật thì sợi dây chuyền bị đứt rơi lại tại hiện trường 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bông hoa, trên có đính hạt chất màu đỏ và nhiều hạt chất màu trắng và 01 mảnh kim loại, màu vàng, có kiểu dáng có hình chữ “M”), rồi chạy đến xe mô tô để P chở lên thành phố H. Sau đó, H đi trả xe mô tô cho ông C1, rồi cùng P, bắt xe vào Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến ngày 14/5/2024, P cùng H đi đến tiệm V1, ở số B L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (tiệm vàng của bà Phan Thị Kim H3, sinh năm 1973); bán sợi dây chuyền vàng đã chiếm đoạt được với số tiền 7.840.000 đồng; H chia cho P 3.900.000 đồng, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ gồm:

  • - 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bông hoa, trên có đính hạt chất màu đỏ và nhiều hạt chất màu trắng;
  • - 01 mảnh kim loại, màu vàng, có kiểu dáng có hình chữ “M”;
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 75D1-072.45, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen;
  • - 01 cái cờ lê, bằng kim loại, màu trắng, cỡ 10, có chữ “CENTURY USA STANDARD";
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme, kiểu máy: RMX3262, có imeil: 865510050433939, imei2: 865510050433921, điện thoại có gắn sim số thuê bao: 0948010840;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen.

Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng, gồm: 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bông hoa, trên có đính hạt chất màu đỏ và nhiều hạt chất màu trắng và 01 mảnh kim loại, màu vàng, có kiểu dáng có hình chữ “M” trên cho chủ sở hữu. Các vật chứng còn lại chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự thị xã H để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Tại Bản kết luận giám định số: 1059/K1-KTHS ngày 29 tháng 05 năm 2024, của Phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bông hoa; trên có đính hạt chất màu đỏ và các hạt chất màu trắng: 01 mành kim loại, màu vàng có kiểu dáng hình chữ "M" thu giữ được kết luận:

Phần kim loại màu vàng của mặt dây chuyền gửi giám định có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (A): Hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 61%; đồng là 22,6%, bạc là 16,4%; Tổng khối lượng mẫu là 6,27 gam (tính cả khối lượng hạt chất màu đỏ và trắng).

01 mảnh kim loại, màu vàng có hình chữ "M" gửi giám định có kim loại vàng (A1), đồng (Cu) và bạc (A). Hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 61%. đồng là 24,5%, bạc là 14,5%. Tổng khối lượng mẫu là 0,03 gam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 42 ngày 11/5/2020, của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có tổng trọng lượng 4,08 chỉ, có kiểu dáng là gồm nhiều mảnh hình chữ M nối lại, có mặt sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bông hoa, trên có đính hạt chất màu đỏ và nhiều hạt chất màu trắng, tỷ lệ kim loại vàng chiếm 61% có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 17.082.960 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bà Ngô Thị H2 yêu cầu các bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P, phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng. Bị cáo P đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo H chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSHTh ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Đinh Đức H về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Võ Văn P về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P phạm tội: “Cướp giật tài sản”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đinh Đức H từ 03 năm 09 tháng đến 4 năm tù; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Văn P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại rút yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng nên đề nghị không xem xét về trách nhiệm dân sự.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu huỷ các vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, trả lại các tài sản không liên quan đến tội phạm.

Các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên toà bị hại là bà Ngô Thị H2 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì hoàn cảnh khó khăn mà phạm tội và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền 12.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 15 phút, ngày 13 tháng 5 năm 2024; tại thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Đinh Đức H và Võ Văn P, đã có hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu vàng của chị Ngô Thị H2, trị giá 17.082.960 đồng (mười bảy triệu không tám mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi đồng).

Hành vi trên của bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Đinh Đức H có 03 tiền án, đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng số 71/CT-CKSHTh ngày 04/11/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại với tổng trị giá là 17.082.960 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo P được thưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có bố là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3) quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đây là vụ án cướp giật tài sản có tính chất rất nghiêm trọng, trong đó bị cáo Đinh Đức H là người rủ rê, khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện tội phạm, bị cáo Võ Văn P là người giúp sức cho việc thực hiện tội phạm. Đối với bị cáo H có nhân thân xấu, đã có 03 tiền án, nhưng bị cáo H không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bà Ngô Thị H2 không yêu cầu các bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P phải bồi thường về dân sự và số tiền 12.000.000 đồng; đồng thời không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ các vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng; trả lại cho bị cáo Đinh Đức H 01 điện thoại di động hiệu Realme, kiểu máy: RMX3262, có imeil: 865510050433939, imei2: 865510050433921, điện thoại có gắn sim số thuê bao: 0948010840 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen do không liên quan đến tội phạm; trả lại cho ông Đặng Văn C1 01 xe mô tô biển kiểm soát 75D1-072.45, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen.

[9] Về án phí: Các bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Đức H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/5/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn P 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/7/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng: 01 cái cờ lê, bằng kim loại, màu trắng cỡ 10, có chữ “CENTURY USA STANDARD” được niêm phong trong 01 bì thư có chữ ký họ tên: Trần Lê H5, Đinh Đức H, dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT và dán băng keo trong.

- Trả lại cho bị cáo Đinh Đức H:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme, kiểu máy: RMX3262, có imeil: 865510050433939, imei2: 865510050433921, điện thoại có gắn sim số thuê bao: 0948010840, được niêm phong trong 01 bì thư có chữ ký họ tên: Trần Lê H5, Đinh Đức H, dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT và dán băng keo trong.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, hiêu N3, loại bàn phím, không kiểm tra tình trạng, chất lượng điện thoại, màn hình bị vỡ, được niêm phong trong 01 bì thư có chữ ký họ tên: Trần Lê H5, Đinh Đức H, dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT và dán băng keo trong;

- Trả lại cho ông Đặng Văn C1 01 xe mô tô mang BKS: 75D1-072.45, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen, số khung: C640CY736140, số máy: 5C64736152.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Đức H và Võ Văn P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Đức H và Võ Văn P phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger