|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hiếu Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Hằng và bà Trương Thị Bích Tuyền.
-
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-HN ngày 26/7/2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L (Đặng Thị Thu L1), sinh năm 1982, địa chỉ: tổ A, khóm C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975, địa chỉ: tổ A, khóm C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Các đương sự đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị L1 trình bày: Bà và ông H do mai mối và chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01/2002, ngày 10/12/2002. Trong thời gian chung sống, bà L1 và ông H có sinh 03 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/3/2004 (đã trưởng thành có khả năng lao động), Nguyễn Thanh T, sinh ngày 27/6/2008 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 27/01/2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do ông H thường xuyên cờ bạc và gây nợ nần, không quan tâm chăm sóc gia đình, bà L1 nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H vẫn không sửa đổi.
Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà L1 yêu cầu được ly hôn với ông H; bà L1 yêu cầu được nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 27/6/2008 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 27/01/2010, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Thanh H thống nhất với lời trình bày của L1 về điều kiện và thời gian đi đến hôn nhân, quá trình chung sống và địa điểm chung sống của vợ chồng cũng như nguyên nhân mâu thuẫn bà L1 trình bày. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống nhưng không lớn và ông H vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn bà L1.
Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất nên hòa giải không thành.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, thể hiện:
- Về hôn nhân: Năm 2002, bà L1 và ông H, do mai mối và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01/2002, ngày 10/12/2002 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
Theo nguyên đơn, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H thường xuyên cờ bạc và gây nợ nần không quan tâm chăm sóc gia đình, nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H vẫn không sửa đổi. Nhận thấy, tình cảm không còn nên bà L1 yêu cầu ly hôn với ông H. Bị đơn ông H thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống nhưng không lớn, ông H vẫn còn tình cảm nên không đồng ý ly hôn với bà L1.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống, bà L1 và ông H không thể hàn gắn nên việc bà L1 yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng L1, H sinh được ba con chung Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/3/2004 (đã trưởng thành có khả năng lao động), Nguyễn Thanh T, sinh ngày 27/6/2008 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 27/01/2010. T và A có nguyện vọng sống cùng bà L1. Bà L1 có nguyện vọng được nuôi dạy hai con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không đồng ý ly hôn nhưng nếu trường hợp Tòa án xử chấp nhận ông đồng ý theo nguyện vọng của con. Để đảm bảo ổn định cho con chung việc giao hai con chung cho bà L1 tiếp tục nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật, nguyện vọng của con, xét chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà L1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H. Ông H cư trú tại tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L1 và ông H do mai mối và chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01/2002, ngày 10/12/2002 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo lời khai của ông bà L1 trình bày: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã do ông H thường xuyên cờ bạc và gây nợ nần, không quan tâm chăm sóc gia đình, bà L1 nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H vẫn không sửa đổi.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ, chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn niềm tin dành cho nhau. Bên cạnh đó, ông H thừa nhận vợ, chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do ông H thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần, không quan tâm chăm sóc con cái. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, có tiếp tục duy trì hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L1 về việc ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà L1, ông H cùng xác định trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/3/2004 (đã trưởng thành có khả năng lao động), Nguyễn Thanh T, sinh ngày 27/6/2008 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 27/01/2010 hiện do bà N và ông T1 đang nuôi dạy cả hai thống nhất giao con chung cho bà L1 nuôi dạy, ông H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L1 về việc được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung.
Bà L1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà L1 yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung chưa trưởng thành và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[2.5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Đặng Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003227 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L1.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị L1 được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
- Về con chung:
- Về án phí sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01/2002, ngày 10/12/2002 của Ủy ban nhân dân phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý.
Bà Đặng Thị L1 được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung chưa trưởng thành tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 27/6/2008 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 27/01/2010. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/3/2004 do đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết.
Bà L1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Bà Đặng Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003227 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo của bà Đặng Thị L1, ông Nguyễn Thanh H là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Hiếu Trung |
Bản án số 73/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 73/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đặng Thị L1 được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H
