Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 10-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Bà Cao Thị Ngọc Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 11/7/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 78/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo Thạch D, sinh ngày 01/9/1964, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch Việt Nam; con ông Thạch T (đã chết) và bà Diệp Thị G (đã chết); bị cáo có 02 người vợ, người vợ thứ nhất tên Kiên Thị R (đã chết), người vợ thứ hai tên Thạch Thị T1, sinh ngày 01/01/1970, nơi cư trú ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; con 05 người con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt hành chính; Bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Vũ K, sinh năm 1973. Địa chỉ ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

- Người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Lê Vũ K:

Bà Nguyễn Thị Hồng T2, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bài phát biểu bảo vệ quyền lợi cho bị hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

2

Thạch Thị B, sinh năm 1965. Địa chỉ ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

Ông Thạch Ngọc D1, sinh năm 1980. Địa chỉ ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

Người làm chứng:

Thạch Thị T1, sinh năm 1970. Địa chỉ ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Thạch D và bà Thạch Thị T1, sinh ngày 01/01/1970, nơi cư trú ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là vợ chồng, sinh sống tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống, hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến ngày 24/11/2022, bà T1 về nhà chị ruột của bà T1 tên Thạch Thị B, sinh ngày 09/01/1965, nơi cư trú ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh sống (cũng là nhà cha mẹ ruột bà T1 để lại cho bà B quản lý). Bị cáo D nhiều lần đến kêu bà T1 về nhà sống với bị cáo D nhưng bà T1 không đồng ý. Trong thời gian sống tại nhà bà B, ông Lê Vũ K, sinh ngày 01/01/1973 (cùng nơi cư trú với bà B và là chồng của bà B) có chở bà T1 đi công việc, từ đó bị cáo D nảy sinh ý định ghen tuông ông K và bà T1 có quan hệ bất chính, bị cáo D nhiều lần đến nhà ông K gây chuyện, vụ việc này đã được địa phương tổ chức hòa giải.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 30/11/2023, sau khi bị cáo D đã uống rượu xong, bị cáo suy nghĩ đến việc ông K chở bà T1 nên bị cáo D tức giận, bị cáo D điều khiển xe mô tô đến trước nhà ông K và nói “Báo tin, nhưng không nói rõ nội dung", nói xong bị cáo D điều khiển xe quay về.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo D điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông K và mang theo một cây dao với mục đích là để gây thương tích cho ông K. Khi đến, bị cáo D gặp bà T1, bà B và bà Thạch Thị R1, sinh ngày 01/01/1955, nơi cư trú ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh trước sân nhà ông K và dừng xe lại, bị cáo D lấy cây dao ở trên xe, tay phải bị cáo cầm dao giơ lên và nói “Thằng nào chia rẽ vợ chồng tao, tao chém chết”, nghe bị cáo D nói vậy bà R1 bỏ về, bà B và bà T1 đi vào nhà bà B và đóng cửa lại. Lúc này, bị cáo D cầm dao đi lại đứng trước cửa nhà sau bà B chém vào cánh cửa và vào thanh giường tre nhưng không thiệt hại về tài sản, lúc chém dao bị xúc lưỡi, bị cáo D bỏ cán dao tại hiện trường rồi bỏ đi ra một đoạn thì bị cáo D quay lại đứng trước sân nhà ông K và chửi thề, nói lớn tiếng.

Do tức giận việc bị cáo D chửi và nói lớn tiếng, ông K cầm một đoạn tre dài 1,27 mét, đường kính rộng nhất là 0,04 mét, đường kính nhỏ nhất là 0,03 mét từ trong nhà của ông K đi đến chỗ bị cáo D đang đứng, sau đó dùng đoạn tre để đánh bị cáo D, trong lúc giằng co với nhau, bị cáo D chụp được đoạn tre, sau đó giật được đoạn tre từ tay của ông K, tay phải bị cáo D cầm đoạn tre đánh một cái trúng vào vùng đầu ông K

3

làm ông K bị té ngã xuống đất và bị thương tích, thấy ông K bị thương tích, bị cáo D bỏ đoạn tre tại hiện trường rồi lên xe điều khiển về. Sau khi sự việc kết thúc, ông K được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T để điều trị từ ngày 30/11/2023 đến ngày 08/12/2023 ra viện. Ngày 15/12/2023, ông K làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Thạch D. Quá trình điều tra, bị cáo D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 22/KLTTCT-2024 ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y thuộc sở y tế tỉnh T, kết luận:

Các kết quả chính:

  • Nứt sọ thái dương bên trái, điện não không còn ổ tổn thương, tỷ lệ 20% (Hai mươi phần trăm).
  • Máu tụ ngoài màng cứng thái dương - đỉnh bên trái, đã điều trị, còn ổ dịch, không có di chứng thần kinh, tỷ lệ 16% (Mười sáu phần trăm).
  • Sẹo trung bình vùng trán - đỉnh - thái dương trái, tỷ lệ 2% (Hai phần trăm).
  • Sẹo trung bình vùng thái dương - đỉnh trái, tỷ lệ 2% (Hai phần trăm).

Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Vũ K tại thời điểm giám định là 35% (Ba mươi lăm phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương trên người Lê Vũ K là: Do ngoại lực tác động trực tiếp; Vật gây thương tích: Vật tày cứng; Hướng tác động: Từ trái sang phải

Ngày 16/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu: 01 (một) đoạn tre khô dài 1,27 mét, đường kính rộng nhất là 0,04 mét, đường kính nhỏ nhất là 0,03 mét. Đến ngày 18/03/2024, thì ra Lệnh nhập kho vật chứng để quản lý. Riêng cây dao mà bị cáo D dùng để chém cửa nhà và giường tre của bà B sau đó vứt bỏ tại hiện trường, quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra không tạm giữ được

Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS-HS, ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch D về tội “cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch D có lời khai: Do bị cáo nghi ngờ bà T1 là vợ của bị cáo với ông Lê Vũ K có quan hệ bất chính, bị cáo tức giận nên mới dùng 01 đoạn tre khô đánh vào đầu gây thương tích cho ông K (đoạn 9 tre khô này là của bị hại dùng đánh bị cáo, nhưng bị cáo giật được từ bị hại và dùng để đánh lại bị hại). Đối với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 22/KLTTCT-2024 ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y thuộc sở y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể ông K do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 35% thì bị cáo đồng ý, bị cáo không thay đổi lời khai.

4

Về trách nhiệm dân sự ông Lê Vũ K yêu cầu bị cáo D phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tiền mất ngày công lao động, tiền tổn thất tinh thần và tiền nuôi bệnh của bà Thạch Thị B với tổng số tiền là 63.211.000 đồng, đến nay bị hại đã nhận 31.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo nộp tại cơ quan thi hành án dân sự huyện T hại chưa nhận. Ngoài số tiền 32.211.000 đồng bị cáo nộp tại cơ quan thi hành án dân sự huyện T để khắc phục hậu quả thì bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với hành vi của bị cáo D dùng dao chém vào cánh cửa và thanh giường tre của bà B, nhưng không bị hư hỏng, vẫn sử dụng được. Bà B không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường thiệt hại.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Thạch D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Thạch D từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã thoả thuận bị cáo D phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tiền mất ngày công lao động, tiền tổn thất tinh thần và tiền nuôi bệnh của bà Thạch Thị B với tổng số tiền là 63.211.000 đồng, đến nay bị hại K đã nhận 31.000.000 đồng, đề nghị tuyên tiếp tục quản lý số tiền 32.211.000 đồng bị cáo Thạch D2 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú đảm bảo thi hành án cho bị hại ông Lê Vũ K.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) đoạn tre khô dài 1,27 mét, đường kính rộng nhất là 0,04 mét, đường kính nhỏ nhất là 0,03 mét.

Về án phí đề nghị buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình bị hại

Bị hại ông Lê Vũ K tha thiết xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Thạch D xuống mức còn 03 năm tù.

Người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Lê Vũ K là bà Nguyễn Thị Hồng T2 gửi bài phát biểu có nội dung chính như sau:

Thống nhất cáo trạng truy tố bị cáo Thạch D theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng. Xét thấy, tính chất vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và hậu quả đã xảy ra bị hại bị thương. Xét thấy nên cần phải cách ly bị báo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Đồng thời, cũng nhằm răn đe đối với những ai có bản tính hung hăng, coi thường pháp luật, thích giải quyết các vấn đề bằng bạo lực như bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Vũ K yêu cầu bị cáo Thạch D bồi thường về trách nhiệm dân sự với số tiền 63.211.000 đồng là có cơ sở, phù hợp vối quy định tại

5

Điều 584, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại K số tiền 31.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục quản lý số tiền 32.211.000 đồng bị cáo Thạch D2 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú đảm bảo thi hành án cho bị hại ông Lê Vũ K. Về vật chứng trong vụ án không có nên không xem xét giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu đối đáp với bị hại: Mặt dù bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo là tốt, nhưng mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là đã có xem xét đến toàn diện tính chất, mức độ hành vi của bị cáo cũng như yếu tố lỗi của các bên và đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị hại, trong đó đã áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù (dưới mức hình phạt của luật quy định từ 05 năm đến 10 năm tù), do đó kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức đề nghị nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự có thể xảy ra trong tương lai.

Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo biết mình sai với pháp luật, sai với gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định vào khoảng 15 giờ ngày 30/11/2023 tại ấp V, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Thạch D có hành vi dùng đoạn tre đánh gây thương tích cho ông Lê Vũ K, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 35% là có thật. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Thạch D là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng trong vụ án và Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 22/KLTTCT-2024 ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y thuộc sở y tế tỉnh T.

6

[2] Hành vi của bị cáo Thạch D đã xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại ông Lê Vũ K được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hậu quả thương tích trên người ông Lê Vũ K có mối quan hệ nhân quả do hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo Thạch Diêm v dùng đoạn tre là hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự để gây thương tích cho bị hại vào đầu bị hại là vùng trọng yếu cơ thể. Bị cáo thực hiện gây thương tích cho bị hại ông Lê Vũ K với tỷ lệ tổn thương cơ thể 35% và thuộc trường hợp quy định tại các điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 63/CT-VKS-HS, ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Thạch D về tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[3] Tội phạm bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị cáo ghen tuông, nghi ngờ vợ mình (bà T1) có mối quan hệ bất chính với ông K, nhưng qua điều tra chưa có đủ căn cứ xác định sự việc quan hệ bất chính như bị cáo nghi ngờ. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, là người dân tộc thiểu số (K), trình độ học vấn thấp nên việc am hiểu pháp luật có phần bị hạn chế, bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống còn 03 năm tù). Tại phiên tòa bị cáo đã nhận ra sai lầm của mình và xin lỗi bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông K và bà B yêu cầu tổng số tiền 63.211.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ và khắc phục trước cho ông K và bà B 31.000.000 đồng, còn 32.211.000 đồng bị cáo nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện T để tiếp tục khắc phục hậu quả thiệt hại cho ông K1 và bà B. Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 (một) đoạn tre khô dài 1,27 mét, đường kính rộng nhất là 0,04 mét, đường kính nhỏ nhất là 0,03 mét là vật chứng vụ án và không có giá trị sử dụng, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ.

[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

7

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Thạch D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Thạch D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tiếp tục quản lý số tiền 32.211.000 đồng bị cáo Thạch D2 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú đảm bảo thi hành án cho bị hại ông Lê Vũ K.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) đoạn tre khô dài 1,27 mét, đường kính rộng nhất là 0,04 mét, đường kính nhỏ nhất là 0,03 mét.

Về án phí buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - TGVPL;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án Thạch Diêm cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger