|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 73/2024/HSST Ngày 10/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Trịnh Hữu Hải
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
- Bà Trần Thị Hạnh
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Thi– Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST -HS ngày 21/6/2024; đối với bị các bị cáo:
-
Lê Văn Phường, sinh năm 1988 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Anh, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị Kim Yến (Uyến), sinh năm: 1969; bị cáo có vợ tên Ngô Thị Kiều Hoa, sinh năm: 1999 và có 01 con sinh năm 2021; tiền sự: không, tiền án, có 01 tiền án:
Ngày 17/4/2014, bị xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo bản án số 43/2014/HSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến ngày 26/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Trường Việt, sinh năm 1994 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ sắt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Đức, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị Kim Luyện, sinh năm: 1969; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim Duyên, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016. Con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 28/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Hồ Minh Dương, sinh năm 2002 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Minh Hùng, sinh năm: 1982 và bà Vũ Thị Thanh Thúy, sinh năm: 1986; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Vi Minh Tuấn, sinh năm 1988 tại Kiên Giang; nơi cư trú: khu phố Khánh Long, phường Tân Phước Khánh, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Đức Tài, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị Khoe, sinh năm: 1961; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh Thúy, có 01 con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
-
Ông Trương Ngọc Minh, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Đường số 1, thôn Gio An, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
-
Ông Trần Văn Thành, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ 5, ấp Vĩnh Bình, xã Bình Gĩa, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
-
Bà Đoàn Kim Thoa, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ: 285/27 Hùng Vương, khu phố Hồng Lan, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Trần Nhật Chiến, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Bình, xã Bình Gĩa, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
-
Ông Nguyễn Hoài Nam, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Phước An, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
-
Bà Từ Thị Út Bảy, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ 3, thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
-
Bà Nguyễn Thị Kim Luyện, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
-
Bà Trần Thị Kim Yến (Uyến), sinh năm: 1970 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú Sơn, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
-
Trần Tuấn Anh, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
PHẦN NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 18/10/2023, Lê Văn Phường gọi điện rủ Hồ Minh Dương đi trộm cắp xe ba gác và Dương đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 19/10/2023, Phường điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72E1-601.35 chở Hồ Minh Dương đến địa bàn xã Suối Nghệ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến tiệm thu mua phế liệu của ông Trương Ngọc Minh, sinh năm:1978, trú tại đường số 1, thôn Gio An, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì phát hiện trong sân có để 02 xe ba gác. Dương đứng ngoài cảnh giới còn Phường dùng kìm thủy lực dài 40cm đã chuẩn bị sẵn từ trước đó cắt cửa cổng đột nhập vào nhà lấy trộm 01 xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 ra đường rồi nổ máy chạy về hướng xã Láng Lớn. Đi được khoảng 3-4 Km, Phường rẽ vào một con hẻm gần đó rồi gọi điện thoại cho Nguyễn Trường Việt nói “vừa lấy trộm được xe ba gác” và chỉ vị trí của mình cho Việt. Sau đó, Việt điều khiển xe tải hiệu Kia biển kiểm soát 72C1- 126.87 đến đưa xe ba gác vừa trộm cắp được lên xe tải chở đến bán cho Vi Minh Tuấn. Tuấn biết đây là tài sản do Việt trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 9.000.000 đồng, Việt lấy 1.500.000 đồng tiền công, Phường chia cho Dương 3.000.000 đồng còn lại tiêu xài hết. Sau khi mua xe trên, Tuấn đưa về nhà sửa chữa lại rồi đăng bán trên mạng xã hội Facebook. Ông Trần Tuấn Anh, sinh năm: 1993, trú tại ấp An Lạc Tây, xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Long An đã mua lại xe trên với giá 16.500.000 đồng.
Lê Văn Phường sau khi giao xe cho Việt thì tiếp tục cùng Hồ Minh Dương quay lại tiệm của ông Minh trộm cắp 01 xe ba gác biển kiểm soát 60L1-1477 chạy về hướng thị xã Phú Mỹ. Đi được khoảng 7km thì cả hai dừng lại. Phường điện thoại cho Long (chưa rõ họ tên, địa chỉ) bán chiếc xe trên với giá 7.500.000 đồng. Sau đó, Phường hẹn Việt đến lấy xe đi giao cho Long, đồng thời đưa số điện thoại của Long cho Việt để hai người liên hệ giao xe. Khoảng 06 giờ cùng ngày, Việt đến lấy xe giao cho Long với giá 11.000.000 đồng. Phường chia cho Việt 3.000.000 đồng, Dương 4.000.000 đồng còn lại Phường đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 174/BB-HĐĐGTS ngày 13/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức xác định trị 01 xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 là 29.000.000 đồng (bút lục số 108-111).
Đối với xe ba gác biển kiểm soát 60L1-1477 do không thu hồi được, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không có hóa đơn, không có bất kỳ một loại giấy tờ nào thể hiện tính pháp lý liên quan đến chiếc xe trên nên không đủ cơ sở pháp lý để tiến hành định giá. Ngày 30/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức đã từ chối định giá chiếc xe ba gác trên (bút lục số 103, 105).
Tại Công văn số 40/STC-HĐĐGTTHS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ chối định giá tài sản đối với xe ba gác biển kiểm soát 60L1-1477 (bút lục số 96).
Quá trình điều tra, Lê Văn Phường, Hồ Minh Dương, Nguyễn Trường Việt và Vi Minh Tuấn còn khai nhận thêm đã thực hiện các vụ trộm cắp xe ba gác khác trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 09/11/2022 Lê Văn Phường gọi điện cho Hồ Minh Dương rủ đến xã Bình Giã trộm cắp xe ba gác và Dương đồng ý. Khoảng 3 giờ ngày 10/11/2022, Phường điều khiển xe (không nhớ biển số) chở Dương đi đến nhà của ông Trần Văn Thành, sinh năm: 1975, trú tại tổ 5, ấp Vĩnh Bình, xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì cả hai phát hiện xe ba gác biển kiểm soát 61L6-3538 dựng trước sân. Dương đứng ngoài cảnh giới còn Phường dùng kìm thủy lực (chuẩn bị sẵn từ trước) cắt cửa cổng rồi đẩy xe ra đường. Dương điều khiển xe ba gác máy vừa trộm được đến nhà bà Lê Thị Ban, sinh năm: 1957, là bà ngoại của Dương, trú tại: thôn Sơn Thuận, xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cất giấu còn Phường điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, Dương ra trước cổng nhà chờ Đức (không rõ họ tên, địa chỉ) đến chở về. Lúc này ông Thành thấy xe của mình trong nhà bà Ban nên đến rút chìa khóa xe của Đức rồi nói với Dương “mày ăn trộm xe tao, sao mày đưa vô đây” thì Dương trả lời “xe con mới mua”, ông Thành gọi điện báo Cơ quan Công an để giải quyết thì Dương đi bộ ra sau nhà bà Ban rồi tẩu thoát.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 77/BB-HĐĐGTS ngày 30/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức xác định trị 01 xe ba gác biển kiểm soát 61L6-3538 là 30.000.000 đồng (bút lục số 356-359).
Vụ thứ hai: Ngày 30/8/2023, Lê Văn Phường gọi điện rủ Nguyễn Trường Việt đi trộm cắp xe ba gác và Việt đồng ý. Khoảng 03 giờ ngày 31/8/2023, Phường điều khiển xe ba gác biển kiểm soát 72E1-601.35 chở Việt đến cơ sở sản xuất nước uống đóng chai “Thiên Minh” tại số nhà 285/27 Hùng Vương, khu phố Hồng Lan, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì phát hiện xe ba gác máy biển kiểm soát 61L8-3608 của bà Đoàn Kim Thoa đang dựng trong sân. Việt đứng ngoài cảnh giới còn Phường dùng kìm thủy lực (chuẩn bị sẵn) cắt ổ khóa cổng đi vào sân đẩy xe ba gác ra ngoài. Đi được khoảng 20m, Phường đấu dây điện cho xe nổ máy rồi Việt điều khiển xe vừa trộm được còn Phường chạy theo sau. Khi đến khu vực mỏ đá ở Bình Trung thì Việt đem xe giấu vào rẫy tiêu gần đó. Phường chở Việt về nhà lấy xe tải biển kiểm soát 72C-126.87 đến chở xe ba gác đi bán. Việt mang xe trên đến gặp Vi Minh Tuấn nói xe vừa trộm được và bán cho Tuấn với giá 17.000.000 đồng. Do xe tải bị hư hỏng nên Việt và Phường thống nhất để số tiền này cho Việt sửa xe. Tuấn mua xe xong thì sửa chữa lại rồi đăng bán trên mạng xã hội Facebook cho Quốc (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 21.000.000 đồng. Tuấn trả tiền công vận chuyển cho Thanh (không rõ họ tên, địa chỉ) hết 1.500.000 đồng còn lại tiêu xài hết.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 167/BB-HĐĐGTS ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức xác định trị 01 xe ba gác biển kiểm soát 61L8-3608 là 30.000.000 đồng (bút lục số 273-275).
Vụ thứ ba: Khoảng 02 giờ ngày 28/9/2023, cũng với phương thức và thủ đoạn như trên, Phường đi cùng Thương (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đến tiệm gạo “Nhật Chiến” của ông Trần Nhật Chiến (sinh năm: 1993, trú tại ấp Vĩnh Bình, xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) trộm cắp xe ba gác. Thương đứng ngoài cảnh giới còn Phường dùng kìm thủy lực (mang theo sẵn) cắt cửa sắt đột nhập vào nhà kho lấy 01 xe ba gác biển kiểm soát 60T2-2340. Phường đăng lên mạng xã hội Facebook bán cho một người có nick “Nguyễn Hùng” (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng. Phường và Thương chia nhau mỗi người 4.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
Tại Công văn số 35/HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức từ chối định giá đối với xe ba gác biển số 60T2-2340 do tài sản chưa thu hồi được, đồng thời không có hồ sơ pháp lý kèm theo gồm: Hóa đơn mua bán xe và lệ phí trước bạ; Giấy tờ xe (giấy đăng ký xe ba gác); Các hồ sơ liên quan đến xe ba gác (bút lục số 99).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức, Lê Văn Phường, Hồ Minh Dương, Nguyễn Trường Việt và Vi Minh Tuấn đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (bút lục số 144-160, 304-308, 316-322, 430-442, 448-460).
Vật chứng vụ án:
- 01 xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 của Nguyễn Ngọc Minh (không có giấy đăng ký xe) và 01 xe ba gác biển kiểm soát 61L6-3538 của ông Trần Văn Thành có giấy đăng ký xe nhưng qua tra cứu dữ liệu đăng ký xe không có thông tin về chiếc xe trên. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý.
- 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A51 gắn số thuê bao 0978903073 của Lê Văn Phường; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn số thuê bao 0963961252 của Nguyễn Trường Việt; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J7 gắn số thuê bao 0377282462 của Vi Minh Tuấn. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 72E1-601.35 (số khung: không rõ, số máy KC26E-1211007) là phương tiện Phường sử dụng đi trộm cắp tài sản. Tại Bản kết luận giám định số 65/KL-PC09-DVCH ngày 06/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: “Phương tiện cần giám định: số khung bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy; số máy nguyên thủy” (bút lục số 101) và 01 kìm thủy lực dài 40cm. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý.
- 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 72C1-126.87 của ông Nguyễn Hoài Nam (sinh năm: 1974, trú tại thôn Phước An, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) cho Nguyễn Trường Việt thuê để vận chuyển đồ đạc cho khách; ông Nam không biết Việt dùng xe trên chở tài sản trộm cắp đi bán nên ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho ông Nam.
- 01 xe mô tô (không nhớ biển số), Phường sử dụng đi trộm cắp tài sản vào ngày 10/11/2022 sau đó Phường đã bán cho người khác (không nhớ bán cho ai, ở đâu) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Trách nhiệm dân sự:
- Ông Trương Ngọc Minh yêu cầu các bị can Phường, Việt và Dương bồi thường số tiền 28.000.000 đồng. Nguyễn Trường Việt đã bồi thường cho ông Minh 10.000.000 đồng, Hồ Minh Dương bồi thường cho ông Minh 10.000.000 đồng và Lê Văn Phường bồi thường cho ông Minh 1.500.000 đồng.
- Bà Đoàn Thị Kim Thoa yêu cầu các bị can Phường, Việt và Tuấn bồi thường 30.000.000 đồng. Nguyễn Trường Việt đã bồi thường cho bà Thoa 10.000.000 đồng.
- Ông Trần Văn Thành và ông Trần Nhật Chiến không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Bản cáo trạng số 69/CT-VKS-XM ngày 05/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố các bị cáo Lê Văn Phường, Nguyễn Trường Việt và Hồ Minh Dương về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố Vi Minh Tuấn về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17, 38; các điểm g, h khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn Phường từ 04 năm -4 năm 06 tháng tù;
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17, 38; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Việt từ 24-30 tháng tù;
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17, 38; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Hồ Minh Dương từ 15-18 tháng tù
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 17, 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Vi Minh Tuấn từ 18-24 tháng tù
- Ngoài ra còn đề xuất xử lý phần vật chứng, phần trách nhiệm dân sự.
Các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của bản thân, nói lời sau cùng chỉ thể hiện thái độ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức rõ lỗi lầm; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để các bị cáo sớm ổn định cuộc sống.
Ông Trương Ngọc Minh có mặt tại phiên tòa xác định đã nhận tiền bồi thường từ các bị cáo là 21.500.000đ và không yêu cầu bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự, đồng thời có và có nguyện vọng nhận lại 01 xe ba gác máy 60Y2-3527 để sử dụng. Về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản.
Ông Trần Văn Thành có nguyện vọng xin nhận lại tài sản là tang vật của vụ án là xe ba gác máy có biển số 61L6-3538;
Bà Trần Thị Kim Thoa xác định đã nhận số tiền bồi thường là 10.000.000đ từ gia đình bị cáo Việt, yêu cầu bị cáo Việt và Phường tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000đ, bị cáo Việt và Phường đồng ý tiếp tục bồi thường.
Bị cáo Vi Minh Tuấn đồng ý hoàn trả cho lại anh Trần Tuấn Anh số tiền 16.500.000đ, xét sự tự nguyện là hợp pháp nên ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn Phường và các đồng phạm đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
[2.1] Về tội danh “trộm cắp tài sản”
Khoảng 16 giờ ngày 09/11/2022 bị cáo Lê Văn Phường và bị cáo Hồ Minh Dương đã có hành vi trộm cắp tài sản là xe ba gác biển kiểm soát 61L6-3538 của ông Lê Văn Thành có giá trị là 30.000.000 đồng;
Ngày 30/8/2023, bị cáo Lê Văn Phường và bị cáo Nguyễn Trường Việt đã có hành vi trộm cắp tài sản là xe ba gác máy biển kiểm soát 61L8-3608 của bà Đoàn Kim Thoa, sau đó đến chở xe ba gác đến địa bàn tỉnh Bình Dương để bán cho Vi Minh Tuấn với giá 17.000.000 đồng, khi bán có nói với Tuấn là xe vừa trộm được và bán cho Tuấn, theo kết luận định giá tài sản số 167/BB-HĐĐGTS ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức xác định trị 01 xe ba gác biển kiểm soát 61L8-3608 là 30.000.000 đồng.
Vào khoảng 16 giờ ngày 18/10/2023, Lê Văn Phường cùng Hồ Minh Dương đi trộm cắp tài sản là xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 của ông Trương Ngọc Minh tại xã Bình Giã ra đường rồi nổ máy chạy về hướng xã Láng Lớn. Đi được khoảng 3-4 Km, Phường rẽ vào một con hẻm gần đó rồi gọi điện thoại cho Nguyễn Trường Việt nói “vừa lấy trộm được xe ba gác” và chỉ vị trí của mình cho Việt. Sau đó, Việt điều khiển xe tải hiệu Kia biển kiểm soát 72C1- 126.87 đến đưa xe ba gác vừa trộm cắp được lên xe tải chở đến bán cho Vi Minh Tuấn. Tuấn biết đây là tài sản do Việt trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 9.000.000 đồng, Việt lấy 1.500.000 đồng tiền công, Phường chia cho Dương 3.000.000 đồng còn lại tiêu xài hết. Sau khi mua xe trên, Tuấn đưa về nhà sửa chữa lại rồi đăng bán trên mạng xã hội Facebook. Ông Trần Tuấn Anh, sinh năm: 1993, trú tại ấp An Lạc Tây, xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã mua lại xe trên với giá 16.500.000 đồng.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 174/BB-HĐĐGTS ngày 13/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức xác định trị 01 xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 là 29.000.000 đồng.
Bị cáo Lê Văn Phường cùng với các đồng phạm tham gia trộm cắp tài sản tổng giá trị 89.000.000đ, trong đó Hồ Minh Dương tham gia trộm cắp cùng Lê Văn Phường giá trị tài sản 59.000.000đ, Nguyễn Trường Việt tham gia cùng Lê Văn Phường cùng trộm cắp là 60.000.000₫ do đó hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tương ứng là “Chiếm đoạt tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, thuộc trường hợp tội phạm đã hoàn thành, phù hợp với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức.
[2.2] Về tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Bị cáo Vi Minh Tuấn đã có hành vi tiêu thụ tài sản do Lê Văn Phường và Nguyễn Trường Việt trộm cắp và bán cho Tuấn vào ngày 30/8/2023 là 01 xe ba gác biển kiểm soát 61L8-3608 là 30.000.000 đồng, sau đó Tuấn sửa lại và rao bán trên mạng xã hội. Đến ngày 18/10/2023 bị cáo Vi Minh Tuấn tiếp tục tiêu thụ tài sản do Lê Văn Phường và Hồ Minh Dương trộm cắp là 01 xe ba gác biển kiểm soát 60Y2-3527 là 29.000.000 đồng và bán lại cho Tuấn, sau đó Tuấn sửa chữa và rao bán trên mạng xã hội.
Hành vi của các bị cáo Vi Minh Tuấn đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự thuộc trường hợp tội phạm đã hoàn thành, phù hợp với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức.
[3]. Về trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Các bị cáo là công dân đã trưởng thành, riêng bị cáo Phường đã phải chấp hành hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản, phải hiểu rõ pháp luật bảo vệ tài sản của người khác nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu của bản thân. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, đồng thời cũng có thời gian giáo dục và cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Tuấn vì tham lợi đã nhiều lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên cần phải xử lý bằng hình phạt tù mới tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.
[4]. Quá trình lượng hình có xem xét đến vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà pháp luật quy định để áp dụng đối với các bị cáo.
[4.1]. Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, các bị cáo Phường, Việt, Dương và Tuấn đều thực hiện 02 lần phạm tội do đó các bị cáo phải chịu tình tiết tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo Phường phải chịu thêm tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2]. Tình tiết giảm nhẹ:
Đối với các bị cáo trong vụ án trộm cắp tài sản: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo Phường, Việt và Dương đã bồi thường cho anh Trương Ngọc Minh tổng số tiền 21.500.000đ, bị cáo Việt đã bồi thường cho bà Thoa số tiền 10.000.000đ, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay ông Minh có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Phường, Việt, và Dương, bà Thoa có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Việt, riêng bị cáo Dương có ông nội là ông Hồ Văn Hóa là người có công với nước được tặng thưởng huân chương là tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Vi Minh Tuấn quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này các bị cáo đều phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có người tổ chức, cầm đầu nên quá trình lượng hình có xem xét đến vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo Phường tham gia với vai trò chính rủ rê và trực tiếp thực hiện các hành vi phạm tội nên hành phạt của bị cáo Phường phải cao nhất so với các bị cáo còn lại, các cáo Việt có nhân thân xấu, thực hiện 02 lần trộm cắp với bị cáo Phường nên hình phạt phải cao hơn bị cáo Dương.
Khi xem xét quyết định hình phạt cho các bị cáo Dương thì thấy, bị cáo tuổi đời còn trẻ phạm tội với vai trò giúp sức, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhằm áp dụng mức hình phạt vừa đủ tác dụng giáo dục, răn đe đồng thời nêu cao tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Phường còn có hành vi trộm cắp xe ba gác máy gắn biển số 60T2-2340 của ông Trần Nhật Chiến tại xã Bình Giã, huyện Châu Đức vào ngày 28/9/2023 và bị cáo Phường và Dương hành vi trộm cắp xe gác máy gắn biển số 60L-1477 của ông Minh sau đó đó bán lại cho người tên Long (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 11.000.000đ vào ngày 18/10/2023, hiện nay do tài sản chưa thu hồi được, đồng thời không có hồ sơ pháp lý kèm theo gồm: Hóa đơn mua bán xe và lệ phí trước bạ; Giấy tờ xe (giấy đăng ký xe ba gác) nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức từ chối định giá đối với xe ba gác máy gắn biển số 60T2-2340 và xe ba gác biển số 60L-1477 nên chưa có căn cứ xem xét xử lý các bị cáo trong vụ án này mà tách ra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý bằng một vụ án khác.
[5].Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Ngọc Minh yêu cầu các bị can Phường, Việt và Dương bồi thường số tiền 28.000.000 đồng. Nguyễn Trường Việt đã bồi thường cho ông Minh 10.000.000 đồng, Hồ Minh Dương bồi thường cho ông Minh 10.000.000 đồng và Lê Văn Phường bồi thường cho ông Minh 1.500.000 đồng. Phần còn số tiền lại số tiền 6.500.000₫ ông Dương không yêu cầu các bị cáo Phường, Việt Dương tiếp tục bồi thường.
Bà Đoàn Thị Kim Thoa yêu cầu các bị can Phường và Việt bồi thường 30.000.000 đồng. Nguyễn Trường Việt đã bồi thường cho bà Thoa 10.000.000 đồng. Phần còn lại là 20.000.000đ bị cáo Việt và bị cáo Phường phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bà Thoa (liên đới theo phần bị cáo Việt 5.000.000 đồng, bị cáo Phường 15.000.000 đồng).
- Ông Trần Văn Thành và ông Trần Nhật Chiến không yêu cầu bồi thường về dân sự.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Vi Minh Tuấn về việc tự nguyện hoàn trả lại cho ông Trần Tuấn Anh số tiền 16.500.000đ là tiền bán xe ba gác cho ông Trần Tuấn Anh.
[6].Về vật chứng trong vụ án:
Đối với 01 xe ba gác gắn biển kiểm soát 60Y2-3527 của Nguyễn Ngọc Minh (không có giấy đăng ký xe) và 01 xe ba gác gắn biển kiểm soát 61L6-3538 của ông Trần Văn Thành không có giấy đăng ký xe, qua tra cứu dữ liệu đăng ký xe không có thông tin về chiếc xe trên, 02 xe ba gác trên là tang vật trong vụ án trộm cắp nên tạm giao lại cho ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Trần Văn Thành quản lý, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A51 gắn số thuê bao 0978903073 của Lê Văn Phường; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn số thuê bao 0963961252 của Nguyễn Trường Việt; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J7 gắn số thuê bao 0377282462 của Vi Minh Tuấn là phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi trộm cắp và tiêu thụ tài sản trộm cắp nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 72E1-601.35 (số khung: không rõ, số máy KC26E-1211007) là phương tiện Phường sử dụng đi trộm cắp tài sản. Tại Bản kết luận giám định số 65/KL-PC09-DVCH ngày 06/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: “Phương tiện cần giám định: số khung bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy; số máy nguyên thủy”, xét đây là phương tiện bị cáo Phường dùng trộm cắp tài sản nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối 01 kìm thủy lực dài 40cm là phương tiện các bị cáo dùng trộm cắp tài sản, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 72C1-126.87 của ông Nguyễn Hoài Nam (sinh năm: 1974, trú tại thôn Phước An, xã Đá Bạc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) cho Nguyễn Trường Việt thuê để vận chuyển đồ đạc cho khách; ông Nam không biết Việt dùng xe trên chở tài sản trộm cắp đi bán nên ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho ông Nam là phù hợp
Đối với 01 xe mô tô (không nhớ biển số), Phường sử dụng đi trộm cắp tài sản vào ngày 10/11/2022 sau đó Phường đã bán cho người khác (không nhớ bán cho ai, ở đâu) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
[7]. Về án phí
Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự có giá ngạch:
Đối với số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Phường và bị cáo Việt phải hoàn trả cho bà Thoa, do quá trình điều tra các bị cáo đã đồng ý, tại phiên tòa hôm nay đề nghị Tòa án ghi nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí đối với số tiền này.
Bị cáo Vi Minh Tuấn phải chịu án phí trên số tiền hoàn trả cho ông Trần Tuấn Anh (16.500.000₫ x 5%) = 825.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Phường, Nguyễn Trường Việt và Hồ Minh Dương phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Vi Minh Tuấn phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Phường 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Việt 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hồ Minh Dương 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vi Minh Tuấn 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự, tuyên xử:
- Buộc bị cáo Lê Văn Phường và bị cáo Nguyễn Trường Việt phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Đoàn Thị Kim Thoa số tiền 20.000.000 đồng (liên đới theo phần bị cáo Việt 5.000.000 đồng, bị cáo Phường 15.000.000 đồng);
- Buộc bị cáo Vi Minh Tuấn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Trần Tuấn Anh số tiền 16.500.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên
- Tạm giao cho ông Nguyễn Ngọc Minh 01 xe ba gác máy, màu sơn xanh, gắn biển số 60Y2-3527, (loại xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong);
- Tạm giao cho ông Trần Văn Thành 01 xe ba gác máy, màu sơn xanh, gắn biển số 60L6-3538 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).
- Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực (kìm dùng cắt kim loại), làm bằng kim loại, có chiều dài 40cm.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các tài sản gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A51, màu xanh, có gắn 01 thẻ sim điện thoại có số sê ri trên thẻ: 8984048000301405672;
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, có gắn 01 thẻ sim điện thoại có số sê ri trên thẻ: 8984048000388611002;
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7, màu đen, có gắn 01 thẻ sim điện thoại có số sê ri trên thẻ: 8984048000079662335;
- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, màu Đỏ-Trắng, biển số: 72E1-601.35, số khung không rõ, số máy: KC26E-1211007 (xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức và Công an huyện Châu Đức)
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Đức tiếp tục xem xét xử lý hành vi trộm cắp của các bị cáo Phường đối xe ba gác máy gắn biển số 60T2-2340 của ông Trần Nhật Chiến tại xã Bình Giã, huyện Châu Đức vào ngày 28/9/2023 và hành vi trộm cắp bị cáo Phường và Dương đối với xe ba gác máy gắn biển số 60L-1477 của ông Minh vào ngày 18/10/2023 tại xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức.
Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo Nguyễn Phương Đông, Trần Nguyễn Anh Ngọc, Đặng Ái Quốc mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vi Minh Tuấn phải nộp số tiền 825.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo mười lăm ngày áp dụng đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được tính từ khi nhận hoặc được niêm yết bản án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Phường và đồng phạm bị truy tố về "Tội trộm cắp tài sản"
