|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/HSST Ngày 10/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy – Cán bộ nghỉ hưu và ông Lê Văn Bắc – Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 10/01/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/HSST ngày 13/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/QĐXXST-HS ngày 13/12/2023 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Như Tuấn A, sinh ngày 08/05/2006.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiêp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1985 và bà Nông Thị H, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
-
Nguyễn Như Đ, sinh ngày 25/02/2006.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Như C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ theo Quyết
định ra hạn tạm giữ (lần thứ hai) số: 218/QĐ-CQĐT-CSHS ngày 05/01/2024 của Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
-
Nguyễn Thạc Đ1, sinh ngày 24/02/2006.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thạc Q, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ theo Quyết định ra hạn tạm giữ (lần thứ hai) số: 218/QĐ-CQĐT -CSHS ngày 05/01/2024 của Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 11/11/2023, Vũ Mạnh D (D “híp”), sinh năm 2003 trú tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh cùng Nguyễn Văn Trung K, sinh ngày 11/3/2006 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Đức D1, sinh ngày 15/10/2005 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Đặng Thành L, sinh ngày 05/01/2005 trú tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Nhật A1, sinh ngày 09/8/2008 trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 27/6/2006 trú tại thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đi đến Sân vận động phường Đ chơi. Do trước đó D “híp” có mâu thuẫn với Trần Trung H3 (H3 “béo”), sinh ngày 22/4/2006 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh nên khi nhìn thấy cháu Nguyễn Việt D2, sinh ngày 10/01/2008 trú tại ngõ F T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (D2 chơi với H3 “béo”) đang chơi ở gần Sân vận động Đ thì nhóm của D2 “híp” đã dùng gậy gỗ, vỏ chai thủy tinh và chân tay không đánh Nguyễn Việt D2. Được người dân can ngăn nên nhóm của D2 “híp” không đánh Nguyễn Việt D2 nữa mà quay lại Sân vận động Đ gặp Nguyễn Xuân T2, sinh ngày 19/7/2005 trú tại số C khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô chở H3 “béo” và Nguyễn Chu H4, sinh ngày 18/5/2006 trú tại số H T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô đi một mình. Thấy vậy, nhóm của D2 “híp” vẫy tay khiêu khích nhóm của H3 “béo” thì bị nhóm của H3 “béo” đuổi đánh. Bị đuổi đánh, nhóm của D2 “híp" bỏ
chạy về Đ rồi giải tán. Còn nhóm của H3 “béo” đuổi đến khu vực cầu Đ do không đuổi kịp nên quay lại và giải tán. Sau đó, D2 “híp” và H3 “béo” tiếp tục nhắn tin qua mạng xã hội facebook thách thức và hẹn tối ngày 11/11/2022 đến khu vực Khu đô thị H thuộc phường T để đánh nhau.
Ngoài mâu thuẫn với H3 “béo” thì D2 “híp” còn mâu thuẫn với Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 01/7/2007 trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Chiều ngày 11/11//2022, D2 “híp” và Q1 nhắn tin thách thức đánh nhau qua mạng xã hội facebook. Sau đó, Q1 nhắn tin trong nhóm “Ong đốm” trên ứng dụng Facebook Messenger (gồm Q1, Nguyễn Sơn T3, sinh ngày 08/10/2007 trú tại khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Phạm Đức T4, sinh ngày 05/6/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Đinh Hoàng Thành Đ2, sinh ngày 06/5/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh) với nội dung rủ mọi người tối 11/11/2022 tập trung để đi đánh nhau với nhóm D2 “híp”. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, nhóm của Nguyễn Văn Q1 tập trung tại cổng sau Trường tiểu học Đ5 gồm Q1 và 13 người khác gồm: Trần Văn B, sinh ngày 01/11/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Trần B1, sinh ngày 13/10/2006 trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Duy T5, sinh ngày 06/4/2010 trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Ngô Văn H5, sinh ngày 09/8/2007 trú tại khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Vũ Đức N, sinh ngày 08/4/2007 trú tại khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Sơn T3, sinh ngày 08/10/2007 trú tại khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn Thanh T6, sinh ngày 25/12/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Đinh Hoàng Thành Đ2, sinh ngày 06/5/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Phạm Đức T4, sinh ngày 05/6/2007 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Đào Ngọc Đ3, sinh ngày 13/10/2007 trú tại khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Ngọc H6, sinh ngày 09/02/2007 trú tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Ngô Văn Đ4, sinh ngày 14/02/2007 trú tại khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Đức L1, sinh năm 2007 trú tại khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh;
Tại đây, Q1 nhận được thông tin liên lạc qua điện thoại của Nguyễn Thế T7, sinh năm 2004 trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và hỏi Q1 đang ở đâu thì Q1 nói vị trí cho T7 biết (Trước đó, Q1 đã kể cho T7 nghe việc xích mích với nhóm D2 “híp” và hẹn tối ngày 11/11/2022 sẽ tập trung đi đánh nhau với nhóm D2 “híp”). Sau đó, T7 cùng Nguyễn Đức S, sinh ngày 05/9/2007 trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; các đối tượng L2, T8 và D3 đều sinh năm 2006 trú tại xã T, huyện G, Thành phố Hà Nội (bạn xã hội với T7, chưa xác định được nhân thân) và 02 nam thanh niên là bạn của D3 (chưa xác minh được lai lịch nhân thân) đi đến điểm hẹn với Q1. Trong khi chờ đợi nhóm của T7 thì Trần Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, biển số 99G1-545.61 chở Nguyễn Văn Q1 đến khu phố T, phường Đ để Q1 lấy 02 vỏ chai thủy tinh
(loại chai nước Sting) rồi quay về điểm hẹn. Khoảng 10 phút sau thì nhóm của T7 đi đến nơi. Q1 bảo mọi người đi lấy vỏ chai để chuẩn bị hung khí đánh nhau với nhóm của D2 “híp”. Cả nhóm đồng ý và đi đến khu vực cách đó khoảng 100m để lấy vỏ chai thủy tinh. Sau đó, cả nhóm di chuyển đến cột đồng hồ thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T rồi di chuyển theo tỉnh lộ 277 đến khu vực ngã tư gần Cửa hàng đồ gỗ S thuộc phường Đ nhưng không gặp nhóm của D2 “híp” nên quay về tập trung tại Công viên Đ. Trên đường đi có một số đối tượng bỏ về trước gồm: Đào Ngọc Đ3 điều khiển xe đạp điện không theo kịp đoàn nên đi về trước, Ngô Văn Đ4 đèo Trần Đức L1 không theo kịp đoàn cũng đi về trước; Đinh Hoàng Thành Đ2 đèo Phạm Đức T4 đi đến gần Ngã tư cổng Khu đô thị H cũng quay về; nhóm bạn người Hà Nội của T7 cũng đi về. Do vậy, khi quay lại tập trung tại Công viên Đ còn có: Trần Văn B chở Nguyễn Văn Q1; Nguyễn Sơn T3 chở Nguyễn Văn Thanh T6; Trần Ngọc H6 đi một mình; Nguyễn Thế T9 chở 01 người bạn ở Hà Nội. Còn lại Ngô Văn H5 chở Vũ Văn N1 cũng đi lạc đoàn nên quay về khu phố Bà L3 chơi. Lúc này, Trần Trung H3 (H3 “béo”) gọi điện cho Vũ Đức N và bảo N ra quán nước “C1” ở khu Q thuộc phường Đ, thành phố T. Sau đó, N gọi điện cho Trần Văn B và bảo B cùng cả nhóm ra quán “C1” tập trung. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi nhóm của N và B đến quán “C1” thì gặp H3 “béo” và khoảng 07 nam thanh niên đi trên 03 xe mô tô (bạn xã hội của H3 “béo”, hiện chưa xác định được nhân thân). Do trước đó, H3 “béo” liên lạc và biết nhóm của Nguyễn Thạc Đ1 đang tập trung tại khu vực cổng Trường THCS T11 thuộc phường T, thành phố T nên H3 “béo” đưa nhóm của N và 07 nam thanh niên trên đến Trường THCS T11 để gặp nhóm Đ1.
Lúc này, tại cổng Trường THCS T11 có nhóm của Nguyễn Như Tuấn A tập trung gồm: Nguyễn Thạc Đ1 điều khiển xe mô tô Honda Wave, sơn màu trắng chở Trần Việt H7, sinh ngày 08/12/2006 trú tại khu phố Đ, phường Đ; Nguyễn Như Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave, sơn màu đen, biển số 99B1-537-74 chở Nguyễn Như Tuấn A và Chu Mạnh V, sinh ngày 24/02/2006 trú tại khu phố Y, phường Tân Hồng điều khiển xe mô tô Honda Wave, sơn màu đỏ, không đeo biển số đi một mình. Do trước đó, Nguyễn Như Tuấn A cũng có mâu thuẫn với Vũ Mạnh D (D “híp”) nên trước khi đi đến Trường THCS T11, Tuấn A đã gọi điện, nhắn tin rủ Đ, Đ1, H7 đi tìm đánh nhóm D “híp” và được Đ, Đ1, H7 đồng ý. Sau khi H3 “béo” dẫn nhóm thanh niên trên đến gặp nhóm của Đ1 thì H3 “béo” đi về quán “C1” để làm việc. Sau khi H3 “béo” về thì có một số người trong đoàn hô “đi lấy phóng” rồi tất cả di chuyển ra tỉnh lộ 295B hướng về phường Đ, thành phố T. Trên đường đi, Chu Mạnh V tách đoàn đi đến phường Đ để đón bạn tên là L4. Khi đi qua Cửa hàng mua bán xe máy C thì rẽ vào khu đất trống thuộc khu phố T, phường Đ rồi dừng lại. Lúc này, có 02 thanh niên lạ mặt đi vào bụi cây gần đó và lấy ra hai chiếc tuýp sắt gắn dao phóng lợn rồi đưa cho Nguyễn Thạc Đ1 chiếc tuýp sắt dài 150cm, đầu gắn dao phóng lợn dài 18cm và đưa cho Nguyên Như Tuấn A2 chiếc tuýp sắt dài khoảng 120cm, đầu gắn dao phóng lợn dài khoảng 20cm. Đ1 đưa lại cho H7 chiếc tuýp sắt gắn dao phóng lợn trên. Nguyễn Thạc Đ1 điều khiển xe mô tô chở Trần Việt H7 ngồi sau cầm
theo tuýp sắt gắn dao phóng lợn, Nguyễn Như Đ điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Như Tuấn A ngồi sau cầm theo tuýp sắt gắn dao phóng lợn dẫn đầu đoàn di chuyển theo tỉnh lộ 295B đến khu vực ngã ba D thì cả đoàn rẽ phải vào Đ để tìm đánh nhóm D “híp”. Cả nhóm di chuyển đến vòng xuyến Khu đô thị N thuộc phường Đ nhưng không tìm được nhóm D “híp” nên quay lại đi theo tỉnh lộ 277 đến ngã tư khu vực Khu đô thị H thì rẽ phải đi ra Cột đồng hồ thành phố T. Lúc này, Chu Mạnh V điểu khiển xe mô tô chở L4 đi tới và nhập vào đoàn. Do không tìm thấy nhóm của D “híp” nên một số đối tượng đã tách đoàn đi về. Lúc này có: Nguyễn Thạc Đ1 chở Trần Việt H7 ngồi sau cầm theo tuýp sắt gắn dao phóng lợn, Nguyễn Như Đ chở Nguyễn Như Tuấn A ngồi sau cầm theo tuýp sắt gắn dao phóng lợn, Trần Văn B chở Nguyễn Văn Q1 (Q1 cầm theo 02 vỏ chai thủy tinh), Nguyễn Trần B1 chở Nguyễn Duy T5 (không cầm theo hung khí gì), Ngô Văn H5 chở Vũ Đức N (N cầm theo 02 vỏ chai thủy tinh) và Chu Mạnh V chở L4 (không cầm theo hung khí gì) tiếp tục di chuyển đến vòng xuyến Đền Đ6 rồi quay lại C2 đồng hồ để đi vào Đ tìm đánh nhóm của D “híp”. Lúc này, D “híp” đang ở nhà và nhắn tin với Q1 hẹn đánh nhau ở Công ty H9. Thấy vậy, Q1 bảo cả nhóm đi đến Công ty H9. Sau đó, cả nhóm di chuyển theo tỉnh lộ 277 từ Cột đồng hồ đến khu vực ngã tư Khu đô thị H rồi rẽ phải đi về hướng Công ty H9. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đi gần đến Công ty H9 thuộc phường T thì gặp Tổ công tác của Công an thành phố T đang đi tuần tra, kiểm soát. Thấy nhóm của Đ1 cầm theo hung khí, đi thành đoàn đông người nên Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên nhóm của Tuấn A không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga bỏ chạy. Khi bỏ chạy thì Trần Việt H7 vứt chiếc tuýp sắt gắn dao phóng lợn xuống dường (chiếc tuýp sắt này đã bị Tổ công tác thu giữ) còn Nguyễn Như Tuấn A vứt chiếc tuýp sắt gắn dao phóng lợn còn lại ở khu đất trống gần Công ty H9, Nguyễn Văn Q1 và Vũ Đức N vứt vỏ chai thủy tinh dọc đường, cả nhóm giải tán và đi về nhà.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc tuýp sắt dài dài 150cm, đầu gắn dao phóng lợn dài 18cm do Trần Việt H7 cầm;
Cáo trạng số: 220/CTr-VKS, ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Như Tuấn A, Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà:
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu
Đại diện VKSND thành phố Từ Sơn thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Như Tuấn A, Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 6 Điều 134; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Tuấn A 07 tháng đến 10 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 6 Điều 134; Điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Đ 04 tháng đến 07 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 6 Điều 134; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thạc Đ1 04 tháng đến 07 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tuýp sắt dài dài 150cm, đầu gắn dao phóng lợn dài 18cm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho các bị cáo không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do có mâu thuẫn với Vũ Mạnh D (D“híp”) nên tối ngày 11/11/2022, Nguyễn Thạc Đ1 cùng Nguyễn Như Đ và Nguyễn Như Tuấn A cầm theo tuýp sắt gắn dao phóng lợn đi tìm D “híp” để đánh nhau với mục đích gây thương tích cho D “híp”. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi Đ1, Đ và Tuấn A đang trên đường đi tìm đánh nhóm của D “híp” đến khu vực tỉnh lộ 277 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh thì bị Tổ công tác của Công an thành phố T phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Như Tuấn A, Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác, có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích xâm phạm sức khỏe của người khác nhưng được ngăn chặn kịp thời nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo. Hành vi của các bị cáo còn xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng luật hình mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Bởi lẽ các bị cáo không có sự bàn bạc thống nhất với nhau mà cùng nhau thực hiện hành vi, không có sự phân công vị trí, vai trò và không cấu kết chặt chẽ. Bị cáo Tuấn A giữ vai trò chính, là người rủ rê, lôi kéo Đ và Đ1.
[4] Bị cáo Nguyễn Như Tuấn A rủ rê các bị cáo Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối hận về tội lỗi của mình. Tội phạm các bị cáo thực hiện là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ1 và bị cáo Tuấn A đều có ông bà ngoại là người có công với cách mạng nên cả hai bị cáo cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên khi áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo có mục đích xâm hại sức khỏe của “Dũng H8” nhưng đang trên đường đi tìm “Dũng Híp” thì Công an thành phố T phát hiện, ngăn chặn kịp thời nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Vì vậy khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Điều 102 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 đã tham gia nhóm đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng, Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án tại Quyết định số: 09/QĐ-CQĐT-CSHS ngày 04/01/2024 và tạm giữ đối với Đ và Đ1.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ giúp các bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt sống có ích cho xã hội.
[5] Vật chứng và các vấn đề liên quan khác: Đối với 01 chiếc tuýp sắt dài dài 150cm, đầu gắn dao phóng lợn dài 18cm do Trần Việt H7 cầm là công cụ dụng cụ
các đối tượng đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc tuýp sắt gắn dao phóng lợn do Nguyễn Như Tuấn A cầm và những chiếc vỏ chai bia do Vũ Đức N và Nguyễn Văn Q1 cầm, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được nên không xem xét xử lý.
Đối với những chiếc xe mô tô các đối tượng điều khiển vào tối ngày 11/11/2022: Đây đều là xe của người thân các đối tượng. Chủ sở hữu những chiếc xe trên không biết việc các đối tượng sử dụng xe để tụ tập, đuổi đánh nhau nên Cơ quan điều tra không tạm giữ là thỏa đáng.
Đối với Trần Việt H7, Trần Văn B, Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn H5 và Vũ Đức N: H7 có hành vi cầm tuýp sắt gắn dao phóng lợn, B chở Q1 cầm theo vỏ chai thủy tinh, H5 chở N cầm theo chai thủy tinh để tìm đánh nhóm D “híp”. Tuy nhiên, tính đến ngày 11/11/2022, các đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà nhắc nhở, giáo dục là đúng quy định.
Đối với Chu Mạnh V, Nguyễn Trần B1 và Nguyễn Duy T5: Tối ngày 11/11/2022, B1 chở T5 đi tìm đánh nhím D “híp” đến khi lực lượng Công an phát hiện, ngăn chặn thì bỏ chạy. Tuy nhiên, B1 và T5 không cầm theo hung khí gì. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý mà gọi hỏi, nhắc nhở là phù hợp.
Đối với Nguyễn Sơn T3, Nguyễn Văn Thanh T6, Đinh Hoàng Thành Đ2, Phạm Đức T4, Đào Ngọc Đ3, Trần Ngọc H6, Ngô Văn Đ4, Trần Đức L1, Nguyễn Đức S, Nguyễn Thế T7 có tham gia vào nhóm đi tìm đánh D “híp”. Tuy nhiên, trên đường di chuyển đã tách đoàn trước khi bị lực lượng công an phát hiện, ngăn chặn nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý mà chỉ gọi hỏi, nhắc nhở là phù hợp.
Đối với Vũ Mạnh D, Nguyễn Văn Trung K, Nguyễn Đức D1, Đặng Thành L, Trần Nhật A1 và Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh cháu Nguyễn Việt D2 vào chiều ngày 11/11/2022 tại Sân vận động Đ. Tuy nhiên, cháu D2 không bị thương tích gì. Đồng thời, cháu D2 và gia đình không yêu cầu xử lý các đối tượng đã đánh cháu nên Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Mạnh D, Nguyễn Văn Trung K, Nguyễn Đức D1, Đặng Thành L, Trần Nhật A1 và Nguyễn Văn T1 là đúng quy định pháp luật.
Đối với nhóm thanh niên Đ (bạn của Trần Trung H3) và nhóm thanh niên ở G (bạn của Nguyễn Đức T10): H3 và T10 đều khai nhận chỉ quen biết xã hội, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Ngoài ra, các đối tượng trên đều tách đoàn đi về trước nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi chưa đủ tuổi, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông của các đối tượng: Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với hành vi tụ tập đông người, cầm hung khí đi trên đường của các đối
tượng: Khi tụ tập, các đối tượng không bàn bạc, phân công cụ thể ai cầm theo hung khí gì, cầm như thế nào. Mặt khác, khi di chuyển trên đường các đối tượng (Trần Việt H7, Nguyễn Như Tuấn A, Nguyễn Văn Q1 và Vũ Đức N) để hung khí sát vào người, không giơ lên đe dọa người đi đường, không lạng lách, đánh võng, không bấm còi inh ỏi nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi Gây rối trật tự công cộng là phù hợp quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
-
Áp dụng Điều 134 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Tuấn A, Nguyễn Như Đ và Nguyễn Thạc Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
-
Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Tuấn A 07 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 15; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Đ 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thạc Đ1 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tuýp sắt dài dài 150cm, đầu gắn dao phóng lợn dài 18cm.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
-
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị N2 |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
