TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HSST
Ngày: 09/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Công Đại.
Bà: Lý Thị The.
Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:
Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TL-ST-HS, ngày 24 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo.
- Pờ Hừ G: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997; tại huyện Mường T, tỉnh Lai C; nơi cư trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Tả P, xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; con ông Pờ Phí Đ (đã chết) và con bà Ly Mò B (đã chết); vợ Lỳ Phí N, sinh năm 1999; con, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân đã bị xử lý: Ngày 24/05/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 30/01/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tính đến ngày phạm tội lần này đã được xóa án tích; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.
- Lý Văn C: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 2004; tại huyện Mường T, tỉnh Lai C; nơi cư trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Đầu Nậm X, xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Si La; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; con ông Lý Chà B, sinh năm 1978 và con bà Ly Khừ N, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Pờ Hừ G và Lý Văn C, ông: Nguyễn Công Hưởng - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người làm chứng:
+. Ông: Chim Văn C, sinh năm 1986 - Địa chỉ: Khu phố 03, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
+. Ông: Thào A C, sinh năm 1983 - Địa chỉ: Bản Nậm D, xã Tà T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
+. Ông: Lầu A C, sinh năm 1994 - Địa chỉ: Bản Giàng Ly C, xã Tà T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào buổi tối ngày 28/12/2023, Pờ Hừ G, đang sử dụng Heroine ở bụi cây sát tường rào phía sau Trung tâm y tế huyện Mường T thuộc khu phố 09, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C, thì có Lý Văn C đi đến xin sử dụng Heroine cùng nhưng G không cho, khi G sử dụng Heroine xong thì rủ C đi ra ngoài đường tìm mua Heroine. Sau đó G và C đi bộ từ Trung tâm y tế huyện Mường T đến khu vực vòng xuyến thuộc khu phố 12, thị trấn Mường T, thì gặp và mua được của người đàn ông dân tộc Thái lạ mặt 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng (số tiền mua Heroine là của G và quá trình trao đổi mua bán Heroine do G thực hiện, C đều biết và nhìn thấy). Sau khi mua được Heroine thì G và C đi bộ quay về Trung tâm y tế huyện Mường T, khi về đến nơi thì C đi ngủ, còn G mang gói Heroine đi đến phía sau tường rào của Trung tâm y tế huyện Mường T, rồi chia nhỏ thành 15 gói, mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu trắng rồi cất giấu toàn bộ vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người, còn số Heroine vụn, G một mình đã sử dụng hết. Đến sáng ngày 29/12/2023, G rủ C đi ra bụi cây gần tường rào phía sau Trung tâm y tế huyện Mường T để sử dụng Heroine, đến hồi 08 giờ 00 phút cùng ngày khi G và C ra đến nơi chưa kịp sử dụng Heroine thì có Chim Văn C, Thào A C và Lầu A C cùng nhau đến chỗ G và C. C và Thào A C đã hỏi mua Heroine của G để sử dụng, sau khi trao đổi, G đã bán cho C và Thào A C mỗi người 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng mỗi gói. Sau đó G lấy 10 gói Heroine ra và dùng mảnh nilon màu trắng gói chung lại với nhau thành 01 gói rồi đưa cho C đi bán hộ và hứa sẽ trả công cho C là sẽ cho C sử dụng Heroine cùng, 03 gói Heroine còn lại G cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người, mục đích là để bán kiếm lời. Sau khi G đưa Heroine cho C xong thì tổ công tác Công an thị trấn Mường T và Công an xã Bum T đến kiểm tra, kịp thời khống chế G và C, trong lúc tổ công tác tiến hành kiểm tra thì C đã ném toàn bộ số Heroine mà G đưa cho vào bụi cây ngay vị trí C bị khống chế. Còn Chim Văn C, Thào A C và Lầu A C bỏ chạy, quá trình bỏ chạy C và Thào A C đã ném gói Heroine mới mua được từ G (không nhớ ném ở vị trí nào). Trước sự việc trên tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra người của G đã phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải mà G đang mặc 03 gói Heroine và thu giữ tại túi áo phía trước bên phải mà G đang mặc 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng. Đồng thời tiến hành khám nhiệm hiện trường đã phát hiện thu giữ tại vị trí C bị khống chế 10 gói Heroine như đã mô tả ở trên. Tổ công tác tiếp tục tiến hành truy tìm đối với số Heroine mà C và Thào A C ném nhưng không thấy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Pờ Hừ G và Lý Văn C, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng có liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định tư pháp số 144/KLGĐ, ngày 29/12/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 10 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Pờ Hừ G và Lý Văn C có tổng khối lượng là 0,77 gam.
Tại kết luận giám định tư pháp số 145/KLGĐ, ngày 29/12/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 03 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Pờ Hừ G có tổng khối lượng là 0,27 gam.
Tại kết luận giám định số: 103/GĐ-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 03 mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu mẫu 01 đến mẫu 03) thu giữ của Pờ Hừ G gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Có tên khoa học là Diacet1morphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại kết luận giám định số: 102/GĐ-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 10 mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu mẫu 01 đến mẫu 10) thu giữ của Pờ Hừ G và Lý Văn C gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Có tên khoa học là Diacet1morphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại kết luận giám định số: 104/GĐ-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng, có mã số hiệu lần lượt: NF 20600309 và SI 20602245 gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-MT ngày 23 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, truy tố Pờ Hừ G và Lý Văn C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Về trách nhiệm hình sự.
+. Đối với: Pờ Hừ G, về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
+. Đối với: Lý Văn C, về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính:
+. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Hừ G, từ: 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
+. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn C, từ: 02 năm 04 tháng đến 02 năm 10 tháng tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, do điều kiện kinh tế của các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+. Tịch thu tiêu hủy: 14 (mười bốn) mảnh nilon màu trắng, đây là những mảnh nilon dùng để gói Heroine còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng; 02 (hai) phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt 01 đầu.
+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 100.00 đồng (một trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số hiệu lần lượt là: NF 20600309 và SI 20602245 là tiền thật do Pờ Hừ G bán Heroine cho Chim Văn C và Thào A C mà có.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với Lý Văn C và điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với Pờ Hừ G; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc các bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, các bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực phía sau Trung tâm y tế huyện Mường T thuộc khu phố 09, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Pờ Hừ G đã có hành vi bán trái phép cho Chim Văn C và Thào A C mỗi người 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng một gói để Chim Văn C và Thào A C sử dụng. Đồng thời Pờ Hừ G đưa cho Lý Văn C 10 gói Heroine có tổng khối lượng 0,77 gam để C đi bán hộ và hứa sẽ trả công cho C bằng cách cho C sử dụng Heroine cùng. Ngoài ra cùng ngày 29/12/2023 cũng tại địa điểm nêu trên, Pờ Hừ G còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,27 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Thì bị tổ công tác Công an xã Bum T phối hợp với tổ công tác Công an thị trấn Mường T, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Số Heroine này có chung nguồn gốc với số Heroine mà Pờ Hừ G đã bán cho Chim Văn C và Thào A C và đưa cho Lý Văn C. Như vậy Pờ Hừ G phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng Heroine là 1,04 gam. Đối với Lý Văn C có hành vi giúp sức cho Pờ Hừ G là tàng trữ trái phép 10 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,77 gam để bán hộ G. Nên Lý Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,77 gam Heroine.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố các bị cáo: Pờ Hừ G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Lý Văn C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Là hoàn toàn đúng người, đúng tội, các bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy:
[3.1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Bị cáo Pờ Hừ G luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, là hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo Pờ Hừ G.
[3.2]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Bị cáo Lý Văn C luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số Si La, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân chưa có vợ con, sống chung với bố mẹ, gia đình là hộ nghèo, hộ cận nghèo sinh sống tại xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo Lý Văn C.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Pờ Hừ G và Lý Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân:
[5.1]. Bị cáo Pờ Hừ G có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy, đã bị xử lý: Ngày 24/05/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 01 năm 08 tháng tù vê tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 30/01/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tính đến ngày phạm tội lần này đã được xóa án tích. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy và tư lợi của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
[5.2]. Bị cáo Lý Văn C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 09/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy và tư lợi của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy:
[6.1]. Bị cáo Pờ Hừ G là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, là hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Pờ Hừ G theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[6.2]. Bị cáo Lý Văn C là người dân tộc thiểu số Si La, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, bản thân chưa có vợ con, sống chung với bố mẹ, gia đình là hộ nghèo, hộ cận nghèo sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[7]. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
[7.1]. Tịch thu tiêu hủy: 14 (mười bốn) mảnh nilon màu trắng, đây là những mảnh nilon dùng để gói Heroine còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng; 02 (hai) phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt 01 đầu.
[7.2]. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 100.00 đồng (một trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số hiệu lần lượt là: NF 20600309 và SI 20602245 là tiền thật do Pờ Hừ G bán Heroine cho Chim Văn C và Thào A C mà có.
[7.3]. Đối với 1,04 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại đối tượng giám định. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy:
[8.1]. Bị cáo Pờ Hừ G là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, là hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo Pờ Hừ G.
[8.2]. Bị cáo Lý Văn C là người dân tộc thiểu số Si La, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, bản thân chưa có vợ con, sống chung với bố mẹ, gia đình là hộ nghèo, hộ cận nghèo sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo Lý Văn C.
[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận, các bị cáo: Bị cáo Pờ Hừ G đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Lý Văn C đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[10]. Đối với lời bào chữa của người bào chữa, xét thấy: Sau khi tranh luận, người bào chữa đồng ý với nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, là phù hợp về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật và đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy là có căn cứ theo quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[11]. Đối với người đàn ông dân tộc Thái lạ mặt đã bán Heroine với giá 200.000 đồng cho bị cáo Pờ Hừ G. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12]. Đối với Chim Văn C và Thào A C. Quá trình điều tra xác định, C và C đã ném số Heroine không tìm thấy nên không có căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[13]. Trong quá trình làm việc: Lý Văn C khai Pờ Hừ G cho Lý Văn C sử dụng Heroine cùng, vào ngày 28/12/2023. Quá trình điều tra, đã tiến hành đối chất giữa Pờ Hừ G và Lý Văn C. Tuy nhiên Pờ Hừ G không thừa nhận về việc cho C sử dụng Heroine cùng, nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Pờ Hừ G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C không truy tố về tội này. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[14]. Trong quá trình điều tra. C không biết G mua Heroine với số tiền bao nhiêu; mua được bao nhiêu Heroine và C cũng không biết G tàng trữ số Heroine mà G bị thu giữ khi bắt quả tang và không biết G bán Heroine cho C và C như thế nào nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với C về tổng khối lượng số Heroine của G có và bán cho C và C. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo: Pờ Hừ G và Lý Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
+. Căn cứ vào Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Hừ G: 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 29/12/2023.
+. Căn cứ vào Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn C: 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 29/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với các bị cáo Pờ Hừ G và Lý Văn C.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+. Tịch thu tiêu hủy: 14 (mười bốn) mảnh nilon màu trắng, đây là những mảnh nilon dùng để gói Heroine còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng; 02 (hai) phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành, đã bị cắt 01 đầu.
+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 100.00 đồng (một trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số hiệu lần lượt là: NF 20600309 và SI 20602245 là tiền thật do Pờ Hừ G bán Heroine cho Chim Văn C và Thào A C mà có.
+. Đối với 1,04 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại đối tượng giám định. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Pờ Hừ G và Lý Văn C.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo Pờ Hừ G và Lý Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lò Xuân Hải |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pờ Hừ G và Lý Văn C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
