Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST

Ngày: 06/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Bích Liên;
  2. Ông Nguyễn Quốc Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/HSST ngày 24/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H; giới tính: nữ; sinh ngày: 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà không số, tổ B, khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Công Q, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T (Chết); anh, chị, em ruột: Có 08 (tám) người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 2002; chồng, con: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Thị Thu H bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2023 đến ngày 04/8/2023, tạm giam từ ngày 04/8/2023 cho đến nay - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 45 ngày 25/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện N qua tuần tra trên tuyến đường N, khi đến trước căn hộ S, khu B, tổ I, ấp E, xã P, huyện N đã phát hiện Nguyễn Thị Thu H đang đứng cạnh xe mô tô biển số 59C3 - 213.99. Khi kiểm tra đã phát hiện trong túi áo khoác màu đen bên phải mà H đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, H khai nhận là ma túy đá. Tổ tuần tra đã đưa H cùng vật chứng về Công an xã P, huyện N để lập biên bản phạm tội quả tang. Sau đó, Công an xã P, huyện N đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.

Vào lúc 19 giờ cùng ngày 25/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thu H tại nhà không số, tổ B, khu phố E, phường T, Quận G, TP Hồ Chí Minh. Qua khám xét, Công an phát hiện trong thùng rác ở góc bên phải căn nhà có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, H khai nhận là ma túy đá và 20 gói nylon có kích thước 1,5cm x 2cm dùng để chia nhỏ ma túy nên đã tiến hành lập biên bản thu giữ.

Qua điều tra H khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 25/7/2023, một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại vào zalo có tên “Bé L” của H để hỏi mua 01 (một) gói ma túy đá với giá tiền 500.000₫ và hẹn giao ma túy vào lúc 15 giờ 30 cùng ngày tại khu vực gần khu biệt thự K, tổ I, ấp E, xã P, huyện N thì H đồng ý. Sau đó, H đến khu vực hẻm A T gặp một người phụ nữ tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá tiền 700.000₫ (bảy trăm nghìn đồng) về nhà chia nhỏ thành 06 (sáu) gói, H lấy 01 (một) gói ma túy cất giữ vào túi áo khoác màu đen bên phải mà H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 59C3 - 213.99, khu biệt thự K, tổ I, ấp E, xã P, huyện N để bán cho người thanh niên nêu trên nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngoài người thanh niên trên, H còn bán ma túy đá cho một số người sử dụng khác không rõ nhân thân, lai lịch.

Nguyễn Thị Thu H sử dụng ma túy đá từ tháng 4/2023. Từ đầu tháng 7/2023, để có tiền tiêu xài cá nhân và ma túy để sử dụng, H đã đi mua ma túy về chia nhỏ bán cho người khác để kiếm lời. Khi cần mua ma túy, H đến hẻm A T, phường H, quận D, TP Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 01gói ma túy với giá tiền 700.000 đồng, sau đó mang về nơi ở chia ra thành nhiều gói nhỏ và cất giữ để bán lại.

2

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy nêu trên.

Theo Kết luận giám định số: 8166/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K Công an T2, kết luận:

- Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thu H và hình dấu Công an xã P, huyện N, TP Hồ Chí Minh) là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4219g (không phẩy bốn hai gam).

- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cầnn giám định (Tinh thể không màu trong 05 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thu H và hình dấu Công an phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh) đều là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,2132g (một phẩy hai một ba hai gam).

Vật chứng vụ án:

  1. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,3255g (không phẩy ba hai năm năm gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè).
  2. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có tổng khối lượng 1,1037g (một phẩy một không ba bảy gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè).
  3. 01 (một) điện thoại di động, hiệu VIVO, màu xanh, số Imei 1: 860749056615058, số Imei 2: 860749056615041.
  4. 20 (hai mươi) gói nylon có kích thước 1,5cm x 2cm.
  5. 01 (một) xe mô tô biển số 59C3 - 213.99, số máy: JK03E5257993, số khung: RLHJK0313MZ051741, do chị Nguyễn Thị Hồng N1 (sinh năm: 2003; HKTT: A B, phường F, quận D, TP Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký xe. Ngày 25/7/2023, H hỏi mượn chị N1 chiếc xe trên để đi công việc, sau đó sử dụng chiếc xe trên đi bán ma túy và chị N1 hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả chiếc xe trên cho chị N1 là chủ hợp pháp.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp

3

dụng khoản 1 Điều 251; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, những chứng cứ, tài liệu của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

4

Vào khoảng 15 giờ 45 ngày 25/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N, tuần tra trên tuyến đường Nguyễn Hữu T1, khi đến trước căn hộ S, khu B, tổ I, ấp E, xã P, huyện N, TP . phát hiện Nguyễn Thị Thu H đang tàng trữ trái phép 0,4219g, loại Methamphetamine, để bán cho người khác. Qua khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Thu H tại nhà không số, tổ B, khu phố E, phường T, Quận G, TP Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ thêm 05 gói ny lon bên trong chứa tổng cộng: 1,2132g, ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số: 8166/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K Công an T2, kết luận:

- Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thu H và hình dấu Công an xã P, huyện N, TP Hồ Chí Minh) là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4219g (không phẩy bốn hai gam).

- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cầnn giám định (Tinh thể không màu trong 05 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thu H và hình dấu Công an phường T, quận G, TP Hồ Chí Minh) đều là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,2132g (một phẩy hai một ba hai gam).

Tổng khối lượng ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Thị Thu H là 1,6351g (một phẩy sáu ba năm một gam).

Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm, vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đều nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi trái phép nên cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại

5

điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc bị cáo phải chịu phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Xử lý vật chứng:

  • - Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,3255g (không phẩy ba hai năm năm gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè). Đây là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có tổng khối lượng 1,1037g (một phẩy một không ba bảy gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè). Đây là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động, hiệu VIVO, màu xanh, số Imei 1: 860749056615058, số I 2: 860749056615041, là phương tiện bị cáo liên lạc với đối tượng mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ N
  • - 20 (hai mươi) gói nylon có kích thước 1,5cm x 2cm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 59C3 - 213.99, số máy: JK03E5257993, số khung: RLHJK0313MZ051741, do chị Nguyễn Thị Hồng N1 (sinh năm: 2003; HKTT: A B, phường F, quận D, TP Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký xe. Ngày 25/7/2023, H hỏi mượn chị N1 chiếc xe trên để đi công việc, sau đó sử dụng chiếc xe trên đi bán ma túy chị N1 hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả chiếc xe trên cho chị N1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

6

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.

2. Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

2.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • - Tinh thể không màu có khối lượng 0,3255g (không phẩy ba hai năm năm gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè).
  • - Tinh thể không màu có tổng khối lượng 1,1037g (một phẩy một không ba bảy gam) được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (ký hiệu 1632/23 Nhà Bè).
  • - 20 (hai mươi) gói nylon có kích thước 1,5cm x 2cm.

2.2 Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, hiệu VIVO, màu xanh, số Imei 1: 860749056615058, số Imei 2: 860749056615041

(Theo phiếu nhập kho số 2024-NK005 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger