|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST Ngày 06/8/2024 V/v ly hôn giữa chị Yến và anh Chính |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Hùng Dũng
- Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 279/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 224/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1995 “có mặt”
Nơi cư trú: Số 38/3, ấp Xuân Thới Đông 2, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992 “vắng mặt”
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 02/8/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị Y và anh Chính xác 1 hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C thường xuyên bạo lực gia đình, đánh đập vợ con, mặc dù hai bên đã nhiều lần hòa giải về vấn đề mâu thuẫn này nhưng không thể khắc phục được. Đến khoảng tháng 6/2022 ông C bỏ nhà đi nơi khác sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm, không có cơ hội để đoàn tụ nên chị Y xin ly hôn. Về nuôi con chung: Anh, chị có 02 con chung tên Nguyễn Đức T sinh ngày 15/01/2015 và Nguyễn Đức D sinh ngày 17/9/2016, các con đang sống cùng chị Y. Chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không có. Về nghĩa vụ trả nợ: không có.
Quá trình tố tụng, anh C vắng mặt nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Tuy nhiên tại biên bản ghi lời khai ngày 18/12/2023 anh Chính thống n với lời trình bày của chị Y thời gian xác lập hôn nhân, con chung và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như lời chị Y trình bày, anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh C đồng ý ly hôn. Tài sản chung, nghĩa vụ trả nợ: Anh Chính xác đ không có. Về con chung anh C yêu cầu được nuôi cháu T, đồng ý giao cháu D cho chị Y nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa:
Chị Y giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh C. Con chung chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Tài sản chung, nghĩa vụ trả nợ: không có.
Anh C vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh C. Con chung giao cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom con chung cho anh C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh C là bị đơn không có yêu cầu phản tố, được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Y và anh C là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng gần đây phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cải vã, bất hòa, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay nên chị Y xin ly hôn. Tại phiên tòa, anh C vắng mặt nhưng tại biên bản ghi khai ngày 18/12/2023 anh C đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng vợ chồng giữa chị Y và anh C đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh C.
[2.2] Về nuôi con chung: Anh, chị chung sống với nhau có 02 con chung. Anh C tranh chấp quyền nuôi dưỡng cháu T. Xét thấy, các cháu đang sống cùng chị Y, hiện tại có nơi sinh hoạt, học tập ổn định, nguyện vọng của các cháu mong muốn được sống cùng mẹ. Từ khi anh C bỏ đi đến nay chị Y vẫn đảm bảo tốt điều kiện về mọi mặt cho các con, quyền thăm nom con của anh C vẫn được đảm bảo. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho các cháu sau này, cần giao cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng các con là phù hợp. Ghi nhận chị Y không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về chia tài sản: Không có.
[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
[3] Về án phí: Chị Y phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2015; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đức T sinh ngày 15/01/2015 và cháu Nguyễn Đức D sinh ngày 17/9/2016 cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Y không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh C không ai có quyền cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản: Không có.
- Nghĩa vụ trả nợ: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0007805 ngày 21/11/2023 thành tiền án phí.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, được sửa đổi, bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Y, ông c ly hôn
