TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 73/2024/DS-ST
Ngày: 06-6-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ
Ông Phan Anh Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 642/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: 91/32/41, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Hồ Bảo N, sinh năm 1986;
Địa chỉ: 91/32/39, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông H có mặt; bà N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn – Ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H trình bày:
Ông và bà Nguyễn Hồ Bảo N là hàng xóm với nhau. Bà N có vay ông H nhiều lần với tổng số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), cụ thể như sau:
- Ngày 10/01/2022, vay số tiền: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Ngày 03/3/2022, vay số tiền: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Ngày 19/4/2022, vay số tiền: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Ngày 14/5/2022, vay số tiền: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Vì vay tiền nhiều lần nên ông H đề nghị bà N viết lại giấy vay nợ, vào ngày 31/10/2023, bà N có ghi lại giấy nợ cho ông H. Nội dung: Trước đó bà N có vay ông H tổng số tiền là 400.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng nhưng đến tháng 11/2022 ông có giảm xuống còn 1,5%/tháng. Sau đó, từ ngày 31/10/2023, ông lại tiếp tục giảm lãi cho bà N xuống 1%/tháng.
Do khi vay nợ, hai bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng là cao so với quy định của pháp luật nên ông tự nguyện điều chỉnh lãi suất về mức 20%/năm tương đương 1,66%/tháng từ khi cho vay cho đến thời điểm hết tháng 11/2022. Cụ thể, trong giai đoạn này, bà N đã trả tổng số tiền lãi là 96.000.000 đồng, sau khi điều chỉnh lãi suất, tiền lãi bà N phải trả ông là 53.120.000 đồng. Số tiền bà N đã trả 42.880.000 đồng ông tự nguyện trừ vào tiền gốc. Như vậy, tính đến tháng 11/2022, bà N còn nợ ông số tiền là 400.000.000 đồng – 42.880.000 đồng = 357.120.000 đồng.
Tiếp đó, ngày 08/11/2023, bà N đã trả cho ông 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), ngày 06/02/2024, bà N trả 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ngày 06/3/2024, bà N trả 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Do đó, tính đến ngày 06/3/2024, số tiền gốc bà N còn nợ ông là 325.120.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
Vì bà N vi phạm, không trả lãi đúng hạn nên ông đã đề nghị thu hồi nợ gốc. Sau nhiều lần trao đổi nhưng bà N không trả, ông đã gửi thông báo yêu cầu trả nợ và nêu thời hạn yêu cầu trả nợ gốc là ngày 07/01/2024. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn thanh toán nhưng bà N vẫn không thực hiện việc trả nợ cho ông.
Nhận thấy bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Hồ Bảo N trả cho ông số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 06/6/2024 là 387.000.000 đồng, trong đó tiền gốc là 325.120.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám triệu đồng), tiền lãi là 61.880.000 đồng (làm tròn số).
Bị đơn – Bà Nguyễn Hồ Bảo N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại Tòa không có lý do nên không có lời khai tại Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định pháp luật; Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện việc yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H về việc buộc bà Nguyễn Hồ Bảo N trả số tiền gốc là 325.120.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đồng thời, đối với tiền lãi, việc ông H yêu cầu bà N trả lãi với mức 1.66%/tháng và lãi suất giảm dần 1,5%/tháng, 1%/tháng trên số tiền nợ gốc chưa trả theo như thỏa thuận là có lợi cho bà N và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H yêu cầu bà Nguyễn Hồ Bảo N phải trả cho đến ngày 06/6/2024 là: 387.000.000 đồng (Trong đó: Số tiền gốc là: 325.120.000 đồng; tiền lãi là: 61.880.000 đồng) là có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn bà Nguyễn Hồ Bảo N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh nhưng bà N vắng mặt không có lý do và không có ý kiến tại Tòa nên xem như bà N đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ, từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H, buộc bà Nguyễn Hồ Bảo N phải trả cho ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H số tiền tính đến tháng ngày 06/6/2024 là: 387.000.000 đồng (Trong đó: Số tiền gốc là: 325.120.000 đồng; tiền lãi là: 61.880.000 đồng). Bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết: Theo Biên bản xác minh ngày 25/3/2024 của Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị đơn bà Nguyễn Hồ Bảo N có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ 91/32/39, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bà Nguyễn Hồ Bảo N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi theo giấy nợ ngày 31/10/2023. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Về nội dung vụ án:
- [4.1] Đối với nội dung yêu cầu trả tiền gốc:
- Hồ sơ vụ án thể hiện, bà Nguyễn Hồ Bảo N có vay của ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H nhiều lần với tổng số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Vì vay tiền nhiều lần nên ông H đề nghị bà N viết lại giấy vay nợ, vào ngày 31/10/2023, bà N có ghi lại giấy nợ cho ông H. Theo các lời trình bày tại Tòa, ông H tự nguyện điều chỉnh lãi suất từ thời điểm vay cho đến hết tháng 11/2022 từ 3%/tháng xuống 1,66%/tháng; số tiền bà N phải trả cho ông H là 53.120.000 đồng. Ông H tự nguyện trả lại cho bà N số tiền lãi trả còn dư 42.880.000 đồng và đồng ý trừ vào tiền gốc nên cần ghi nhận. Từ tháng 11/2022 đến nay, bà N đã trả được 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) tiền nợ gốc. Do đó, việc ông H yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà N trả cho ông số tiền nợ gốc còn lại tính đến ngày 06/6/2024 là 325.120.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
- [4.2] Đối với nội dung yêu cầu trả tiền lãi:
- Xét thấy, quá trình vay tiền, hai bên có thoả thuận lãi suất ban đầu là 3%/tháng và bà N đã trả lãi cho ông H tính đến hết tháng 11/2022 với tổng số tiền là 96.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông H đã tự nguyện tính lại lãi suất cho bà N theo quy định của pháp luật là 20%/năm (tương đương 1.66%/ tháng), tổng số tiền lãi bà N phải trả là 53.120.000 đồng. Như vậy, số tiền ông H phải trả lại cho bà N là 42.880.000 đồng (96.000.000₫ – 53.120.000đ), số tiền này ông H tự nguyện trừ vào nợ gốc cho bà N nên cần được ghi nhận.
- Đồng thời, ông H còn yêu cầu bà N tiếp tục trả lãi 1.66%/tháng và lãi suất giảm dần 1,5%/tháng, 1%/tháng trên số tiền nợ gốc chưa trả theo như thỏa thuận ghi nhận trong giấy vay tiền ngày 31/10/2023 là có lợi cho bà N và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H yêu cầu bà Nguyễn Hồ Bảo N phải trả cho đến ngày 06/6/2024 là: 387.000.000 đồng (Trong đó: Số tiền gốc là: 325.120.000 đồng; tiền lãi là: 61.880.000 đồng) là có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn bà Nguyễn Hồ Bảo N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và yêu cầu cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến tại Tòa nên xem như bà N đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ, từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Từ những nhận định trên, có cơ sở để cho rằng, việc vay nợ giữa bà N và ông H là có thật và cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H, buộc bà Nguyễn Hồ Bảo N phải trả cho ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H số tiền tính đến ngày 06/6/2024 là: 387.000.000 đồng (Trong đó: Số tiền gốc là: 325.120.000 đồng; tiền lãi là: 61.880.000 đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Hồ Bảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 19.350.000 đồng.
Hoàn trả cho Ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H số tiền 10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002195 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26, 39, 203, 205, 207, 227, 228, Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, 463, 464, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H.
- Án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồ Bảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 19.350.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc bà Nguyễn Hồ Bảo N phải thanh toán cho ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H số tiền tính đến số tiền tính đến ngày 06/6/2024 là: 387.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi bảy triệu đồng). Trong đó: Số tiền gốc là: 325.120.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu một trăm hai mươi nghìn đồng; tiền lãi là: 61.880.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Nguyễn Hồ Bảo N không thanh toán hoặc không thanh toán hết số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chưa thanh toán.
Hoàn trả cho Ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H số tiền 10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002195 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Huỳnh Mai Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Hồ Bảo N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Duyên |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
