Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 73/2024/HSST

Ngày 05 tháng 8 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn, ông Lê Văn La

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Bùi Thanh M; Sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ và tên bố: Bùi Văn X (đã chết); Họ và tên mẹ: Quản Thị T, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo 02 anh em. Bị cáo là thứ nhất; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013.

- Nhân thân: Ngày 26/3/2021 bị Công an thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt 1.500.000 đồng (bị cáo chưa nộp phạt);

- Tiền án:

+ Bản án số 92/2021/HSST ngày 16/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Bùi Thanh M 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2022.

+ Bản án số 18/2023/HSST Ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Bùi Thanh M 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2023.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Bị cáo Bùi Thanh M có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  2. Anh Chu Văn T1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
    Địa chỉ: thôn Kép 11, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  3. Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
    Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thanh M, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, Hoàng Văn P, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 123.74 chở Bùi Thanh M, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đến trước cửa gia đình ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1974, ở thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì M nhìn thấy gia đình ông V có để một chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Makita 9553NB ở trước cửa, xung quanh không có người trông coi nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. M nói với P “Đỗ lại để xuống lấy cái máy cắt”, P đồng ý rồi điều khiển xe mô tô đi qua cửa nhà ông V dừng xe cách nhà ông V khoảng 17 m để chờ M. M xuống xe đi vào cửa nhà ông V lấy trộm chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Makita 9553NB rồi đi ra chỗ P đang chờ. Sau đó P điều khiển xe mô tô chở M đi theo chỉ dẫn của M đi đến cửa hiệu sửa chữa ô tô của anh Chu Văn T1, sinh năm 1978, ở thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán chiếc máy cắt cho anh T1 được 200.000 đồng, số tiền trên P và M cùng nhau ăn tiêu hết.

Ngày 17/4/2024 ông Nguyễn Xuân V đã trình báo sự việc trên đến Công an xã Q, huyện L. Cùng ngày, Hoàng Văn PBùi Thanh M đến Công an xã Q đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên của bản thân (BL 20-21-22).

Cùng ngày 17/4/2024, anh Chu Văn T1 đã giao lại cho Công an xã N 01 máy cắt cầm tay, màu xanh, nhãn hiệu Makita 9553NB đây là tài sản mà Bùi Thanh M đã bán lại cho anh T1 (BL71-72).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 19/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: “Trị giá tài sản là 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xanh, nhãn hiệu Makita 9553NB, mua mới tháng 02/2024, tại thời điểm ngày 17/4/2024 có giá 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng)” (BL37).

Quá trình làm việc điều tra xác định Bùi Thanh M có bệnh án điều trị tâm thần tại Bệnh viện T2 - Sở Y. Ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần Miền núi phía Bắc giám định pháp y tâm thần đối với Bùi Thanh M. Tại bản kết luận số 75/KLGĐ ngày 04/6/2024 của Trung tâm P2 - Khu vực miền núi phía Bắc kết luận:

“1. Bùi Thanh M, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang không bị bệnh tâm thần.

2. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” ngày 17/4/2024 tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang Bùi Thanh M không bị bệnh Tâm thần. Bùi Thanh M đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Bùi Thanh M không bị bệnh Tâm thần, Bùi Thanh M đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi” (BL 41-42).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Xuân V đã nhận tài sản. Đến nay, anh Chu Văn T1 và ông V không yêu cầu M và P phải bồi thường gì.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thanh M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tái phạm.

Bản cáo trạng số 40/KSĐT ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Bùi Thanh M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thanh M từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Ngoài ra còn đề nghị xem xét về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Bùi Thanh M tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Bùi Thanh M, sinh năm 1983 trú tại tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa được xoá án tích. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/4/2024 tại gia đình Nguyễn Xuân V, sinh năm 1974, ở thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Bùi Thanh M có hành vi trộm cắp 01 máy cắt cầm tay, màu xanh, nhãn hiệu Makita 9553NB trị giá 950.000 đồng của anh V.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt do trộm cắp được xác định là 950.000 đồng. Tuy giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng do bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản theo bản án số 92/2021/HSST ngày 16/11/2021 và bản án số 18/2023/HSST ngày 24/02/2023 đều của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Công an thị trấn K, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; năm 2021 và năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử về hành vi trộm cắp tài sản;

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; được người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thanh M, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật nhà nước ta bảo vệ, làm mất trật tự an ninh, xã hội tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội. Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với bị cáo.

[4]. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi, đáng lẽ phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên do bị cáo không có công ăn việc làm; không có tài sản, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Xuân V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Chu Văn T1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền khi mua tài sản trộm cắp. Vì vậy, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[7]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 chiếc máy cắt cầm tay, màu xanh, nhãn hiệu Makita 9553NB là tài sản của ông Nguyễn Xuân V, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 123.74 là tài sản của anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; anh H1 cho Bùi Văn P1 mượn để sử dụng và không biết P1 đi trộm cắp tài sản. Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông V và anh H1 các tài sản trên (BL 73-76).

[8]. Đối với Hoàng Văn P cùng Bùi Thanh M trộm cắp tài sản, tuy nhiên tài sản trị giá 950.000 đồng, P chưa bị xử phạt hành chính, bị kết án về hành vi và các tội về sở hữu. Do vậy, hành vi của P không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/6/2024 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 100 đối với Hoàng Văn P về hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với anh Chu Văn T1 mua chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Makita 9553NB do M bán nhưng anh T1 không biết đây là tài sản do M và P trộm cắp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Các Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án;.
    Xử phạt bị cáo Bùi Thanh M 01 (một) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/4/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
  2. [2]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets
  3. [3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo; người bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 73/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÙI THANH MINH - TRỘM CẮP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger