|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 8 - 2024
“V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và ông Phạm Đức Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt -Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐ-ST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 1982; (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1978; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Y, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp Y, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Trần Thị C trình bày như sau:
Chị C và anh L chung sống với nhau vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 15/11/2011.
Vợ chồng chung sống đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã hàn gắn nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Chị C yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L có ý kiến:
Anh L thống nhất với lời trình bày của chị C về thời gian chung sống và có đăng ký kết hôn theo quy định theo quy định pháp luật. Về mâu thuẫn vợ chồng thì bắt đầu từ năm 2022 nguyên nhân là do vợ chồng có cự cãi qua lại, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Anh L không đồng ý ly hôn, xin được đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Chị C giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày. Anh L vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho chị C được ly hôn với anh L; Về con chung, tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện A nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh L vắng mặt tại phiên tòa lần 02 không có lý do, nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án: Chị C yêu cầu được ly hôn với anh L nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn”.
Chị C kết hôn với anh L trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 15/11/2011 nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để anh chị đoàn tụ gia đình nhưng chị C vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn, xét thấy vợ chồng anh chị đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm lo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị C và anh L xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị C và anh L xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị C có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- Về con chung: Chị C và anh L xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị C và anh L xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị C có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009086 ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị C đã nộp xong án phí.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu Thị Gấm |
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
