Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST

Ngày 03-5-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đắc Hân

Ông Bùi Đức Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 371/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Th, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn 4, xã An Sơn, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Đ, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn 4, xã An Sơn, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2023 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, chị Th (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Th và anh Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 08 tháng 11 năm 2002. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại thôn 4, xã An Sơn, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Th và anh Đ có ba con chung tên là Trương Hữu Đạt, sinh ngày 13/8/2003, Trương Mỹ Uyên, sinh ngày 25/11/2007 và Trương Đặng Công Sở, sinh ngày 13/02/2016. Hiện ba con khỏe mạnh và con tên là Trương Hữu Đạt đã thành niên. Khi ly hôn chị đề nghị giao hai con tên là Trương Mỹ Uyên, Trương Đặng Công Sở cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị để chị và anh Đ tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Th không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Bị đơn là anh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không trình bày quan điểm của mình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn chưa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết nội dung vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cho ly hôn giữa chị Th và anh Đ. Giao hai con chung tên là Trương Mỹ Uyên, sinh ngày 25/11/2007 và Trương Đặng Công Sở, sinh ngày 13/02/2016 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị Th và anh Đ tự thỏa thuận giao nhận cho nhau. Về tài sản chung vợ chồng do Tòa án không thụ lý giải quyết khi ly hôn nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về các tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án:

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Về quan hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quan hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà đương sự giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được, anh Đ không có ý kiến gì nên thuộc trường hợp không phải chứng minh; Quan hệ tài sản chung vợ chồng đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề phải chứng minh.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Th vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Th và anh Đ.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Đ được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 08 tháng 11 năm 2002 của Ủy ban nhân dân xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Th xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ không trình bày quan điểm thể hiện chưa thực sự quan tâm đến hôn nhân. Căn cứ vào thực tế của quan hệ hôn nhân và quy định của pháp luật, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th với anh Đ.

[3] Về con chung: Chị Th và anh Đ có ba con chung tên là Trương Hữu Đạt, sinh ngày 13/8/2003, Trương Mỹ Uyên, sinh ngày 25/11/2007 và Trương Đặng Công Sở, sinh ngày 13/02/2016. Con tên là Trương Hữu Đạt đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Khi ly hôn chị Th đề nghị giao hai con tên là Trương Mỹ Uyên và Trương Đặng Công Sở cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không trình bày quan điểm của mình. Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự thể hiện chị Th, anh Đ cùng đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con và có đủ điều kiện, khả năng và thời gian để chăm sóc con chung, hai con chung hiện đang khỏe mạnh phát triển bình thường và đều có nguyện vọng ở với mẹ. Căn cứ vào tình hình thực tế và quy định của pháp luật nên áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao hai con chung tên là Trương Mỹ Uyên và Trương Đặng Công Sở cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị Th trình bày để tự thỏa thuận và anh Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Th và anh Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Th và anh Đ.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Chị Th và anh Đ có ba con chung tên là Trương Hữu Đạt, sinh ngày 13/8/2003, Trương Mỹ Uyên, sinh ngày 25/11/2007 và Trương Đặng Công Sở, sinh ngày 13/02/2016. Con tên là Trương Hữu Đạt đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Giao hai con chung tên là Trương Mỹ Uyên và Trương Đặng Công Sở cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Việc trực tiếp nuôi con chung được thực hiện cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
    2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị Th và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0008965 ngày 30 tháng 11 năm 2023. Chị Th đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Th, anh Đ không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
  • - UBND xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu:VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thiệp - Trương Văn Đoàn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger