|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HSST
Ngày: 02/7/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Trần Đại Minh;
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Trầm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Ngọc P; Giới tính: Nam, Sinh ngày 01/01/2003; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: 0 T, Phường A, TP T, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 05/12; có 01 con Hà Hạo N, sinh năm 2022; Cha: H (chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thùy O, sinh năm 1979; Có 01 chị.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 20/11/2020, bị Công an P1, thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (chưa nộp phạt).
- Ngày 22/04/2021, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý (đã nộp phạt).
Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Yên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Văn Thị Hương L, sinh năm 2004; Trú tại: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1982; Trú tại: Khu phố T, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Anh Võ Mạnh T1, sinh năm 1977; Trú tại: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Hà Ngọc P gọi điện thoại cho T2 (không rõ lai lịch) liên hệ mua ma túy đá để sử dụng với số tiền 900.000 đồng, sau khi trao đổi thống nhất một thanh niên đến giao ma tuý đá cho P tại quán cà phê của ông B thuộc phường D, thành phố T. P đem số ma túy đá vừa mua được về cất giấu tại Phòng số 301 khách sạn P2 địa chỉ D C, Phường E, thành phố T mà P đã thuê trước đó mục đích để sử dụng. P lấy một ít ma tuý đá ra sử dụng, một ít cho vào ống nhựa hàn kín cất vào túi xách để trong tủ nhôm, số còn lại bỏ trong bì nilon để trên bàn trong phòng khách sạn. Khoảng 14 giờ ngày 18/10/2023, P lấy bì nilon chứa ma túy đá trên bàn bỏ vào túi quần short màu trắng đang mặc, rồi đi taxi đến khách sạn T3, địa chỉ B N, Phường G, thành phố T mục đích để thuê phòng sử dụng ma túy, khi vừa đến sảnh khách sạn thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần short màu trắng của P đang mặc một bì nilon trong suốt bên trong có chưa chất tinh thể màu trắng (bút lục số 28, 47,32,33, 82-86).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Ngọc P tại Phòng số 301 khách sạn P2, địa chỉ D C, Phường E, thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ: 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín, kích thước (3,5x0,8) cm chứa tinh thể màu trắng (bút lục số 32).
Biên bản test thử nhanh phát hiện chất ma tuý ngày 18/10/2023 tại Công an P3, thành phố T, kết quả: Hà Ngọc P dương tính với Methamphetamine (bút lục 65).
Kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt vuốt kín (ký hiệu A1) là ma tuý có khối lượng 7,754g loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín (ký hiệu A2) là ma tuý có khối lượng 0,107g loại Methamphetamine (bút lục 47).
Tại Bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố Hà Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin nhận lại 01 điện thoại kiểu dáng Iphone, màu xanh biển; đối với điện thoại Nokia màu đen, bị cái đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn Thị Hương L đề nghị xử lý theo quy định pháp luật đối với túi xách màu trắng có quai cầm, mặt trước có biểu tượng NY vì không còn giá trị sử dụng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hà Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy: A₁=7,635g, A₂=0,083g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 quần Short màu trắng, 01 túi xách màu trắng có quai cầm, mặt trước có biểu tượng NY; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquarius, phần to nhất có đường kính 5,5cm, nắp nhựa màu xanh đường kính 2,8cm, trên nắp đục hai lỗ: 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh trong suốt một đầu hình cầu; 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 21,5cm có nhiều nếp gấp.
Tịch thu sung quỹ 01 (Một) điện thoại di động N1 màu đen;
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại kiểu dáng Iphone, màu xanh nước biển.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hà Ngọc P đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 18/10/2023, tại khách sạn T3, địa chỉ B N, Phường G và tại khách sạn P2, địa chỉ D C, Phường E, thành phố T, Hà Ngọc P đã có hành vi tàng trữ trái phép ma tuý để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, khám xét thu giữ tổng cộng 7,861g ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Hà Ngọc P đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt vuốt kín (ký hiệu A1) là ma tuý có khối lượng 7,754g loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín (ký hiệu A2) là ma tuý có khối lượng 0,107g loại Methamphetamine.
[4] Xét tính chất hành vi phạm tội bị cáo, nhân thân của bị cáo P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến an toàn trật tự xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS;
Tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội:
A₁=7,635g, A₂=0,083g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 quần Short màu trắng, 01 túi xách màu trắng có quai cầm, mặt trước có biểu tượng NY; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquarius, phần to nhất có đường kính 5,5cm, nắp nhựa màu xanh đường kính 2,8cm, trên nắp đục hai lỗ: 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh trong suốt một đầu hình cầu; 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 21,5cm có nhiều nếp gấp.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen bị cáo dùng liên lạc mua ma tuý;
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại kiểu dáng Iphone, màu xanh nước biển vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với người tên T2 mà bị can Hà Ngọc P khai đã bán ma túy cho P, do không xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc P 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 18/10/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS và khoản 2, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: A₁=7,635g, A₂=0,083g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 quần Short màu trắng, 01 túi xách màu trắng có quai cầm, mặt trước có biểu tượng NY; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquarius, phần to nhất có đường kính 5,5cm, nắp nhựa màu xanh đường kính 2,8cm, trên nắp đục hai lỗ: 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh trong suốt một đầu hình cầu; 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 21,5cm có nhiều nếp gấp.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động N1 màu đen;
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại kiểu dáng Iphone, màu xanh nước biển.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thuỳ Trân |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Đại M Phan Thị Oanh |
Bùi Thị Thuỳ Trân |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO PHÚC- TÀNG TRỮ MA TUÝ
