Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HSST

Ngày 27/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt Hà; Bà Vừ Thị Hoa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 15/4/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-HS ngày 13/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09/9/1986, tại huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: ngày 12/10/2017, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính số 84/QĐ-XPHC về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý với số tiền 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn V đã chấp hành xong quyết định này.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/01/2025, tạm giam từ ngày 17/01/2025, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là P trại tạm giam Khu vực T) cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 08/01/2025, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô đi từ khu A, thị trấn T đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroin để sử dụng. Khi đến bản Noong Thăng, Nguyễn Văn V gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch. Qua trao đổi, V đã mua được từ người phụ nữ đó 02 gói Heroine, được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 600.000 đồng. Mua được H, Nguyễn Văn V lấy một tờ vé ghi xổ số kiến thiết gói chung lại rồi cầm trong lòng bàn tay trái điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày, tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn V bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn V 01 gói được gói bằng tờ vé ghi xổ số kiến thiết (ghi số 943), chứa 02 gói (được gói bằng mảnh nilon màu trắng), bên trong chứa chất bột màu trắng, V khai là Heroine. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Nguyễn Văn V 01 xe mô tô HONDA SUPERDREAM, biển kiểm soát 25T1 - 009.25 số máy 1421327; số khung 121437, 01 đăng ký xe mô tô số 00208 mang tên Lường Văn N.

Tại bản kết luận giám định số 162 ngày 10/01/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V có khối lượng 1,06 gam; là ma túy, loại: Heroine”.

Vật chứng: 1,06 gam Heroine thu giữ của Nguyễn Văn V, đã trích 0,30 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật); vật chứng còn lại 0,76 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy xổ số kiến thiết ghi số 943; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mô tô HONDA SUPERDREAM, biển kiểm soát 25T1–009.25 số máy 1421327, số khung 121437 (xe đã qua sử dụng); 01 đăng ký xe mô tô số 00208 mang tên Lường Văn N.

Cáo trạng số 42/CT-VKSThU ngày 15/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Nguyễn Văn V từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,76 gam Heroine còn lại; 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy xổ số kiến thiết, và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Trả lại cho bà Đỗ Thị L 01 mô tô HONDA SUPERDREAM, biển kiểm soát 25T1 - 009.25 số máy 1421327, số khung 121437 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe mô tô số 00208 mang tên Lường Văn N.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị L trình bày: Khi bị cáo Nguyễn Văn V tự ý lấy chiếc xe mô tô cùng đăng ký xe của bà để thực hiện hành vi phạm tội, bà không biết, nay đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe kèm theo đăng ký xe cho bà, bà không yêu cầu bị cáo V bồi thường.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn V đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 19 giờ 50 phút ngày 08/01/2025, tại khu B, thị trấn T, huyện T, Nguyễn Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 1,06 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.
  3. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo Nguyễn Văn V thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

  1. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Nguyễn Văn V là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.
  2. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn V được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù được cho ăn học hết lớp 12 nhưng không tu dưỡng, rèn luyện mà lại ăn chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng không lấy làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

  1. Về vật chứng: Đối với 0,30 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét, số Heroine còn lại là 0,76 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy xổ số kiến thiết, và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô Nguyễn Văn V sử dụng làm phương tiện đi mua Heroine bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Đỗ Thị L là mẹ đẻ của Nguyễn Văn V. Khi Nguyễn Văn V lấy xe dùng vào việc phạm tội, bà L không biết nên cần trả chiếc xe kèm theo đăng ký xe cho bà Đỗ Thị L.
  1. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H, bị cáo Nguyễn Văn V khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.
  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
  3. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 0,76 gam Heroine còn lại, 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy xổ số kiến thiết ghi số 943, và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Trả lại cho bà Đỗ Thị L 01 mô tô HONDA SUPERDREAM, biển kiểm soát 25T1 - 009.25 số máy 1421327, số khung 121437, xe đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe mô tô số 00208 mang tên Lường Văn N.

    Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với những nội dung liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - PV06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Than Uyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan ĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HSST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 73/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn V tàng trữ 1,06 gam Heroine để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger