|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số : 73/2025/HSST Ngày : 04/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Anh Ngọc;
2/ Bà Trương Thị Lệ Dung;
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Lan Anh là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 291/2024/HSST ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐẶNG VĂN H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1998 tại tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi ở: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đặng Văn T (không rõ năm sinh) và bà Đỗ Mỹ L, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Ngày 17/7/2020 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 08/7/2021; Tiền sự: Ngày 09/3/2023 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 24/6/2024; Tiền án: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Huỳnh Hữu H1, địa chỉ: 1 B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
2/ Ông Lê Đức T1, địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An;
(các ông H1, T1 vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ, ngày 26/7/2024, Đặng Văn H mua ma túy đá của một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) tại khu vực trước phòng trọ số A, tổ B, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với giá 2.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền. Sau đó, H giấu gói ma túy trong cốp bên phải (vị trí chứa bình ắc quy) của xe gắn máy hiệu Daehan biển số 55P8-9311 rồi chạy xe đi tìm chỗ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi H chạy xe đến trước số C T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận T kết hợp Công an phường T, quận T tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong cốp bên phải (vị trí chứa bình ắc quy) của xe gắn máy H đang điều khiển có 01 gói nylon đựng 01 gói nylon chứa tinh thể nghi là ma túy nên Tổ công tác đưa H cùng tang vật về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đặng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.
Theo Kết luận giám định số 8952/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: "Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,8464 gram loại Methamphetamine" (bút lục số 51)
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) điện thoại di động hiệu iphone, số máy: NGA82ZD-A, H khai sử dụng liên lạc cá nhân.
- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 352358063573345, là điện thoại H dùng để liên lạc mua ma túy.
- Một (01) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Hoàng P, Phạm Duy L1 (Điều tra viên, Cán bộ điều tra), Trần Đình H2 (Giám định viên), và hình dấu Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Một (01) xe gắn máy hiệu Daehan, biển số 55P8-9311, số khung RMDDCG4MD61010591, số máy: VDMD10010017591;
Xác minh số khung: RMDDCG4MD61010591, số máy: VDMD10010017591 thuộc về xe gắn máy hiệu Daehan màu nâu, biển số 62K8-9059, do Lê Đức T1 (địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An) đứng tên sở hữu (BL 59). Qua xác minh đương sự Lê Đức T1 hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ (bút lục số 37).
Xác minh biển số 55P8-9311 thuộc về xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, số khung RLCS5C640AY296961, số máy 5C64296959 do Huỳnh Hữu H1 (địa chỉ: 1 B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên sở hữu. Qua xác minh đương sự Huỳnh Hữu H1 hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ (bút lục số 36).
Làm việc với Đặng Văn H được biết H mượn xe gắn máy trên của L2 (quen biết ngoài xã hội, không rõ lai lịch) trước đó 03 ngày để đi công việc, H không giữ giấy tờ xe (bút lục số 110)
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng tin tìm chủ sở hữu biển số và xe gắn máy trên (bút lục số 55)
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 157/PNK ngày 21/10/2024 của Công an quận T (bút lục số 45)
* Về phần dân sự: Không có;
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSQTP ngày 16/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Văn H theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 14 giờ ngày 26/7/2024, Đặng Văn H có hành vi tàng trữ một (01) gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,8464 gram loại Methamphetamine tại trước số C T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang cùng tang vật, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu iphone, số máy: NGA82ZD-A thu giữ của H, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo khai sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 352358063573345 thu giữ của bị cáo H, Hội đồng xét xử xét thấy đây là điện thoại H dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với một (01) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Hoàng P, Phạm Duy L1 (Điều tra viên, Cán bộ điều tra), Trần Đình H2 (Giám định viên), và hình dấu Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là số ma tuý còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;
Đối với một (01) xe gắn máy hiệu Daehan, biển số 55P8-9311, số khung RMDDCG4MD61010591, số máy: VDMD10010017591 qua xác minh có nguồn gốc không rõ ràng cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định. Quá thời hạn mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 157/PNK ngày 21/10/2024 của Công an quận T) (bút lục số 45)
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Cáo trạng số 09/CT-VKSQTP ngày 16/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đã có 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong đó có một tiền sự chưa hết thời hiệu xử lý, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo do đó cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với người tên D (không rõ lai lịch) bán ma túy cho H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang truy xét, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt:
Đặng Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/7/2024;
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu hủy một (01) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Hoàng P, Phạm Duy L1 (Điều tra viên, Cán bộ điều tra), Trần Đình H2 (Giám định viên), và hình dấu Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 352358063573345 ;
Giao một (01) xe gắn máy hiệu Daehan, biển số 55P8-9311, số khung RMDDCG4MD61010591, số máy: VDMD10010017591 cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 (sáu) tháng, quá thời hạn trên mà không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước;
Trả cho bị cáo một (01) điện thoại di động hiệu iphone, số máy: NGA82ZD-A;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 157/PNK ngày 21/10/2024 của Công an quận T);
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết/tống đạt bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 73/2025/HSST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
