Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày 26 – 11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ, TỈNH VĨNH PHÚC


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hà Phan - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phạm Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ đối với bị cáo:

Họ và tên Đặng Văn L, sinh năm 1994 tại Tuyên Quang; Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã K, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà La Thị H1; vợ: Nông Thị H2 (đã ly hôn) và có 02 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự: Không

Tiền án: Tại Bản án số: 91/2022/HSST ngày 16/9/2022, Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên: áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Đặng Văn L 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. L chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/10/2023 (Chưa được xoá án tích).

Quá trình hoạt động bản thân, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh P. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Kim Hồng T – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 02 tỉnh Phú Thọ

Người bị hại: Chị Hà Thị H3, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã M, tỉnh Phú Thọ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn D, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Khu Lũng, xã Minh Đài, tỉnh Phú Thọ

Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1998 (vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ

Bà La Thị H1, sinh năm 1968 (vắng mặt)

HKTT: Thôn B, xã K, tỉnh Tuyên Quang


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn L là công nhân Công ty TNHH V ở khu công nghiệp B, xã B, tỉnh Phú Thọ từ khoảng tháng 2 năm 2025 đến đầu tháng 7 năm 2025 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc L quen biết với chị Hà Thị H3 - SN 2004, HKTT: Thôn K, xã M, tỉnh Phú Thọ và anh Hà Văn D - SN 2004, HKTT: Thôn K, xã M, tỉnh Phú Thọ (là chồng chị H3) đều là công nhân Công ty TNHH V và biết anh D, chị H3 có xe mô tô. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên sáng ngày 12/7/2025 L nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối, liên hệ với chị H3 để chiếm đoạt xe mô tô (do L biết nếu lừa anh D thì anh D sẽ không tin tưởng giao xe cho L nên L xác định sẽ liên hệ, lừa xe của chị H3). Tuy nhiên, L không liên hệ, tiếp cận ngay với chị H3 để chiếm đoạt tài sản vì chị H3 đang mang thai khoảng 30 tuần tuổi, được Công ty TNHH V sắp xếp cho đi làm giờ hành chính.

Đến khoảng 20 giờ 12/7/2025, L sử dụng điện thoại di động truy cập vào tài khoản mạng xã hội Facebook do L tạo lập và sử dụng tên “Đặng Đ” nhắn tin với tài khoản mạng xã hội Facebook của chị H3 tạo lập và sử dụng tên “Phạm Thị Ngọc H4” để nói chuyện, L dùng thủ đoạn gian dối là mượn xe mô tô của chị H4 để sử dụng làm phương đi đón em gái và con trai. Tin là thật nên chị H4 đồng ý cho L mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19D1-273.81, số máy: JA39E2741330, số khung: RLHJA3927NY245488 mà chồng chị H4 là anh Hà Văn D giao cho quản lý và sử dụng, chị H4 hẹn L đến phòng trọ của mình đang thuê tại thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ để cho mượn xe mô tô.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/7/2025, L đi bộ đến dãy phòng trọ của chị H4, chị H4 đã giao chìa khóa cùng chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 cho L. Ngay sau khi lấy được chiếc xe mô tô, L điều khiển chiếc xe đến cửa hàng “Thành Lượng Moto” ở thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ gặp anh Nguyễn Văn L1 SN 1998, HKTT: Thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ là chủ để bán chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 vừa chiếm đoạt của chị H4. Do L không có Giấy chứng nhận đăng ký xe nên anh L1 không đồng ý mua nên L điều khiển xe mô tô về phòng trọ đang thuê ở thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ để cất giữ. Sau đó L nhắn tin cho chị H4 để nói dối là chưa đón được người thân, hẹn đến sáng ngày 13/7/2025 sẽ mang chiếc xe đến trả lại cho chị H4.

Khoảng 07 giờ ngày 13/7/2025, L nhắn tin cho chị H4 nói dối xe mô tô bị thủng xăm khi sử dụng đi đón người thân, hẹn đến chiều ngày 13/7/2025 sẽ mang trả lại cho chị H4. Để thực hiện được mục đích chiếm đoạt của mình nên khoảng 15 giờ cùng ngày, L tiếp tục nhắn tin nói dối chị H4 xe mô tô đang bị lực lượng Cảnh sát giao thông tạm giữ và đề nghị chị H4 cho mượn Giấy chứng nhận đăng ký xe để xuất trình cho cho Cơ quan Công an. Chị H4 tin tưởng L nói nên đã đồng ý đưa cho L mượn Giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngay sau khi lừa lấy được Giấy chứng nhận đăng ký xe từ chị H4 thì L tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 đến cửa hàng S gặp anh L1 để bán. Anh L1 thấy L có Giấy chứng nhận đăng ký xe, không biết xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 là tài sản do L phạm tội mà có nên đã đồng ý mua xe với giá 8.500.000 đồng. Anh L1 viết giấy bán xe, đưa tiền cho L, L giao xe mô tô cùng Giấy chứng nhận đăng ký rồi ra về. Số tiền bán xe mô tô L đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi xảy ra sự việc, chị H4 và anh D đã liên hệ nhiều lần với L để đòi lại chiếc xe mô tô nhưng L không có tiền để chuộc lại xe trả cho chị H4 nên ngày 16/7/2025, anh D đã đến Công an xã B, tỉnh Phú Thọ trình báo sự việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật liên quan cụ thể: Anh Nguyễn Văn L1 đã tự nguyện giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19D1 - 273.81, số máy: JA39E2741330, số khung: RLHJA3927NY245488, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 19006241; 01 Giấy bán xe ngày 13/7/2025 giữa Đặng Văn L và Nguyễn Văn L1 để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 21/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ tiến hành định giá tài sản đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19D1 - 273.81, số máy: JA39E2741330, số khung: RLHJA3927NY245488. Tại Kết luận định giá tài sản số: 67/KL-HĐĐGTS ngày 08/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: giá trị của xe mô tô biển kiểm soát: 19D1 - 273.81, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, màu sơn: xanh đen bạc, năm sản xuất: 2022, xe cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm phạm tội chiếc xe trên có giá trị là: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Về xử lý vật chứng, tài liều đồ vật: Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 là của anh Hà Văn D đã giao cho vợ là chị Hà Thị H3 quản lý, sử dụng. Ngày 15/10/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H3 01 chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 cùng đăng kí xe. Sau khi nhận lại tài sản chị H3 không yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 Giấy bán xe ngày 13/7/2025 giữa Đặng Văn L và Nguyễn Văn L1 được đưa vào trong hồ sơ vụ án làm tài liệu chứng cứ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động L sử dụng để liên lạc, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của chị H3, L khai nhận làm rơi mất, L không nhớ vị trí rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà La Thị H1 SN 1968, HKTT: Thôn B, xã K, tỉnh Tuyên Quang (là mẹ đẻ của L) đã thay L bồi thường số tiền 8.500.000 đồng cho anh Nguyễn Văn L1. Sau khi nhận tiền, anh L1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Bà H1 không yêu cầu L phải trả lại số tiền này.

Đối với anh Nguyễn Văn L1 là người đã mua chiếc xe mô tô do L phạm tội mà có. Tuy nhiên quá trình mua bán anh L1 không biết, L không nói xe mô tô là do L phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Quá trình điều tra làm rõ, bị cáo Đặng Văn L, đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. lời khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 Phú Thọ truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại Cáo trạng số: 13/CT – VKSKV8 ngày 02 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ truy tố Đặng Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Đặng Văn L; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng đến 02 (H5) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L: Thống nhất với Đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như khung hình phạt theo nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo hưởng mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Về án phí bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định pháp luật

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa.


NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Đặng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 12/7/2025, tại phòng trọ của chị Hà Thị H3 tại thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ, Đặng Văn L đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, lừa mượn chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 273.81 cùng đăng kí xe của chị H3 rồi chiếm đoạt có trị giá là 10.000.000 đồng đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi nêu trên của Đặng Văn L đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể khoản 1 Điều 174 quy định:

“. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 13/CT – VKSKV8 ngày 02 tháng 11 năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo L là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo lừa chiếm đoạt chiếc xe máy của chị H3 là phụ nữ đang mang thai, đã bị xử phạt tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp phạm tội nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mẹ bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh L1 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân thuộc hộ nghèo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản lừa đảo Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H3 là chủ sở hữu hợp pháp. Chị H3 đã nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với hành vi của anh Nguyễn Văn L1 là người đã mua chiếc xe mô tô do L phạm tội mà có, anh L1 không biết, L không nói xe mô tô là do L phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 8.500.000 đồng bà La Thị H1 (là mẹ đẻ của L) đã thay L bồi thường cho anh Nguyễn Văn L1. Sau khi nhận tiền, anh L1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Bà H1 không yêu cầu L phải trả lại số tiền này. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động L sử dụng để liên lạc, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của chị H3, L khai nhận làm rơi mất, L không nhớ vị trí rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Đặng Văn L 01 (Một) năm 09 (C) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 19 tháng 7 năm 2025.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn L.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 8 – Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Thi hành án dân tỉnh Phú Thọ
  • - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Phú Thọ
  • - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - UBND xã Kim Bình
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Hoàng Văn Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ, TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger