|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày 26 - 5 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước.
Bà Nguyễn Bạch Nhạn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2025/QĐXXST - HS ngày 14/5/2025 đối với các bị cáo:
- Lý M, sinh ngày: 18/4/1988 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số H đường V, Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý M1 và bà Lý Thị C; có vợ Lâm Hoàng Trúc V, con có 06 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 05/2012/HSST ngày 01/02/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/01/2025 cho đến nay (có mặt).
- Ngô Thị Ái H, sinh ngày: 02/3/1992 tại Khánh Hòa. Nơi thường trú: tổ E, ấp P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: số H đường V, Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N và bà Nguyễn Thị T; có chồng Trần Anh D, con có 04 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cắm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/01/2025 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Dương Hoàng K, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bà Ngô Thị Anh T1, sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý M và Ngô Thị Ái H vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, nên M và H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29/10/2024, M điều khiển xe mô tô loại xe Wave màu đen (không rõ biển số) chở H cùng hai người con tên Lý Minh T2, sinh năm 2021 và Lý Thị Ngọc L, sinh năm 2023 lưu thông trên đường Số F, khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, hướng về đường M thì M phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Balde, màu đỏ đen, biển số 83P3-035.66 của ông Dương Hoàng K đang đậu trước công ty TNHH X, Khu T, đường Số F, khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, không có người trông coi nên M mới nãy sinh ý định lấy trộm xe này. Với ý định đó, M chạy xe lên phía trước một đoạn rồi dừng xe lại bước xuống xe, lúc này M nói với H “lấy chiếc xe kia về bán để mua sữa cho con” thì Hòa đồng Ý. H ngồi trên xe cùng hai người con chờ, còn M đi bộ lại chỗ xe mô tô của ông K đang đậu rồi dẫn đi lại chỗ H. M kêu H qua ngồi trên xe vừa lấy trộm thì Hòa đồng ý, khi đó M ngồi lên xe khỏi động máy chở hai người con và dùng chân đẩy xe vừa lấy trộm chạy đến đường L Khi vừa đi qua Bệnh viện đa khoa tỉnh S thì dừng xe lại, M xuống xe bứt dây ổ khóa đạp nổ máy xe mô tô vừa trộm được rồi H điều khiển chạy về nhà cất giấu. Khoảng vài hôm sau, M tháo biển số 83P3-035.66 ra rồi gắn biển số khác có sẵn trong nhà vào để có người muốn mua xe thì M bán lại lấy tiền, nhưng chưa bán được thì bị phát hiện.
Tại kết luận định giá tài sản số 122/KL-HĐĐG ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 83P3-035.66, số loại Blade, màu đỏ đen, số khung: 3648GY010932, số máy: JA36E0422619, đã sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 30%, với giá 5.640.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 02/01/2025, M điều khiển xe mô tô loại xe Wave màu đen (không rõ biển số) chở H cùng hai người con tên T2 và L đi đến khu vui chơi đô thị 5A. Sau khi chơi xong, M điều khiển xe qua đường Số D, khu đô thị E để đi về thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng - đen - bạc, biển số 83C1-566.19 của bà Ngô Thị Anh T1 đang đậu trước nhà số C ƠLK D, đường số D, khu đô thị E, Phường D, thành phố S, không có ai trông coi nên M nãy sinh định lấy trộm xe mô tô trên. M điều khiển xe đậu cặp bên hông nhà rồi bước xuống xe, còn H và hai người con thì ngồi trên xe. M đi lại chỗ xe của bà T1 đang đậu dẫn xe đi lại chỗ H, lúc này M kêu H ngồi lên xe vừa lấy trộm được, còn M điều khiển xe chở hai người con dùng chân đẩy xe lấy trộm về nhà cất giấu. Đến ngày 03 tháng 01 năm 2025, lực lượng Công an kiểm tra nhà của M thì phát hiện và thu giữ xe mô tô nói trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 18/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: một xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 83C1-566.19, loại Wave, màu trắng - đen - bạc, số khung: 3918KY377792, số máy: JA39E1245621, đã sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, giá 12.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSTPST ngày 18/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H và đề nghị Tòa án tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã 02 lần chiếm đoạt tài sản của người khác, mỗi lần chiếm đoạt có giá trên 2.000.000 đồng, nên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tự khai ra những lần phạm tội trước đó. Bị cáo M là người dân tộc K1, cha bị cáo M là người có công cách mạng, bị cáo H chưa có tiền án tiền sự nhân thân tốt nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Dương Hoàng K và Ngô Thị Anh T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Lý M: 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, có chữ RayBan màu trắng ở trước và sau nón, đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Ngô Thị Ái H: 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, có vết nứt dài 20cm ở giữa nón, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu xám, phía trước áo gần dây kéo có nhiều số 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 màu đen, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bà Ngô Thị Anh T1: 01 (một) xe mô tô biển số 83C1-566.19, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng - đen - bạc, số máy: JA39E1245621, số khung: 3918KY377792, đã qua sử dụng;
Trả lại cho ông Dương Hoàng K: (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đỏ - đen, số khung: 3648GY010932, số máy: JA36E0422619, đã qua sử dụng;
Giao cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh S tiếp tục làm rõ: 01 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đỏ - đen, số máy: HC09E0420103, số khung: 090X3Y420058, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen, số máy: ST50E440012, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ - đen, số khung: JC4327AY116900, số máy: JC43E5575446, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream II, màu nâu, số máy: 1P50FMG-3*10733443, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Fimex Korea, loại xe Jupiter, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) biển số 83P3-168.85; 01 (một) biển số 63T1-4159; 01 (một) biển số 83H1-1450; 01 (một) biển số 83F6-9679; 01 (một) biển số 83F6-8159; 01 (một) biển số 83P3-035.60; 01 (một) biển số 86K8-3995; 01 (một) biển số 83S6-8220; 01 (một) biển số 83FA-9797; 01 (một) biển số 83FB-1656.
Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Dương Hoàng K và bà Ngô Thị Anh T1 vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 10 năm 2024, M và H đã có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Balde, màu đỏ - đen, biển số 83P3-035.66, của ông Dương Hoàng K tại trước công ty TNHH X, Khu T, đường Số F, khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, qua định giá có giá trị 5.640.000 đồng; vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 01 năm 2025, M và H đã có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng - đen - bạc, biển số 83C1-566.19, của bà Ngô Thị Anh T1 tại trước nhà số C ƠLK D, đường Số D, khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S qua định giá có giá trị là 12.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo M và bị cáo H chiếm đoạt trong hai lần của bị hại tài sản qua định giá có giá trị là 18.140.0000 đồng.
[4] Các bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, (khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm). Từ đó, Cáo trạng số 74/CT-VKSTPST ngày 18/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[5] Đây là vụ án 02 bị cáo tham gia nhưng trước khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên không có tính tổ chức mà thuộc đồng phạm giản đơn.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo.
[6.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo M và H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần và mỗi lần chiếm đoạt tài sản đều có giá trị trên 2.000.000 đồng nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tự khai ra những lần phạm tội trước đó. Bị cáo M là người dân tộc Khmer, cha bị cáo M ông Lý M1 thương binh là người có công cách mạng, bị cáo H có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy:
[7.1] Bị cáo Lý M khi phạm tội vai trò là người khởi xướng, là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù mới đủ sức răn đe đối với bị cáo.
[7.2] Bị cáo Ngô Thị Ái H tuy bị cáo 01 tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng phạm với vai trò giúp sức, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đủ sức răn đe bị cáo. Căn cứ quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Mục 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là thể hiện tính nhân đạo và tính khoan hồng của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng:
[8.1] 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, có chữ RayBan màu trắng ở trước và sau nón, đã qua sử dụng đây là tài sản của bị cáo M nên trả lại cho bị cáo Lý M.
[8.2] 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, có vết nứt dài 20cm ở giữa nón, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu xám, phía trước áo gần dây kéo có nhiều số 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 màu đen, đã qua sử dụng đây là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Ngô Thị Ái H.
[8.3] 01 (một) xe mô tô biển số 83C1-566.19, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng - đen - bạc, số máy: JA39E1245621, số khung: 3918KY377792, đã qua sử dụng đây là tài sản của bà Ngô Thị Anh T1 nên cần trả lại cho bà Ngô Thị Anh T1.
[8.4] 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đỏ - đen, số khung: 3648GY010932, số máy: JA36E0422619, đã qua sử dụng đây là tài sản của ông Dương Hoàng K nên cần trả lại cho ông Dương Hoàng K.
[8.5] Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen, số máy: ST50E440012, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ - đen, số khung: JC4327AY116900, số máy: JC43E5575446, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream II, màu nâu, số máy: 1P50FMG-3*10733443, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Fimex Korea, loại xe Jupiter, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) biển số 83P3-168.85; 01 (một) biển số 63T1-4159; 01 (một) biển số 83H1-1450; 01 (một) biển số 83F6-9679; 01 (một) biển số 83F6-8159; 01 (một) biển số 83P3-035.60; 01 (một) biển số 86K8-3995; 01 (một) biển số 83S6-8220; 01 (một) biển số 83FA-9797; 01 (một) biển số 83FB-1656, chưa làm rõ chủ sở hữu, xét thấy cần giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiếp tục làm rõ.
[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Dương Hoàng K và Ngô Thị Anh T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
[11] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đỏ - đen, biển số 83P3-168.85 của ông Nguyễn Văn T3 bị mất trộm vào ngày 28 tháng 12 năm 2024 tại đường B, Khóm E, Phường A, thành phố S và 04 xe mô tô các loại cùng với 08 biển số xe được thu giữ khi kiểm tra nhà của bị can M. Trong quá trình điều tra, các bị cáo M và H không thừa nhận đã lấy trộm những xe mô tô và biển số xe nêu trên. Xét thấy có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ.
[12] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý M.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Mục 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đối với bị cáo Ngô Thị Ái H.
Điểm a, b khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lý M 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2025.
-
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Ái H 01 (một) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án ngày 26/5/2025.
Giao bị cáo Ngô Thị Ái H Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại Dương Hoàng K và Ngô Thị Anh T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Lý M: 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, có chữ RayBan màu trắng ở trước và sau nón, đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Ngô Thị Ái H: 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, có vết nứt dài 20cm ở giữa nón, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu xám, phía trước áo gần dây kéo có nhiều số 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 màu đen, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bà Ngô Thị Anh T1: 01 (một) xe mô tô biển số 83C1-566.19, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng - đen - bạc, số máy: JA39E1245621, số khung: 3918KY377792, đã qua sử dụng;
Trả lại cho ông Dương Hoàng K: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đỏ - đen, số khung: 3648GY010932, số máy: JA36E0422619, đã qua sử dụng;
Giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiếp tục làm rõ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đỏ - đen, số máy: HC09E0420103, số khung: 090X3Y420058, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen, số máy: ST50E440012, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ - đen, số khung: JC4327AY116900, số máy: JC43E5575446, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream II, màu nâu, số máy: 1P50FMG-3*10733443, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Fimex Korea, loại xe Jupiter, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) biển số 83P3-168.85; 01 (một) biển số 63T1-4159; 01 (một) biển số 83H1-1450; 01 (một) biển số 83F6-9679; 01 (một) biển số 83F6-8159; 01 (một) biển số 83P3-035.60; 01 (một) biển số 86K8-3995; 01 (một) biển số 83S6-8220; 01 (một) biển số 83FA-9797; 01 (một) biển số 83FB-1656.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lý M và Ngô Thị Ái H nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
