Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày 24-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hoa;

Ông Lành Văn Khánh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Âu Thị H, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1997 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 25/8/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A, ngách B, ngõ B, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Âu Văn X và bà Hoàng Thị I; có chồng là Vũ Đình N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2025, tại ngoại cho đến nay. Có mặt.

2. Vũ Đình N, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 25/8/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A, ngách B, ngõ B, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình L (đã chết) và bà Mạc Thị D (đã chết); có vợ là Âu Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2025, tại ngoại đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Dương Doãn V, sinh năm 1985 và chị Hoàng Thị Kim D1, sinh năm 1990, cùng trú tại: Số B, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Số A, ngõ A, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Anh Dương Doãn V vắng mặt; chị Hoàng Thị Kim D1, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ngân hàng TMCP V1 (V2). Địa chỉ trụ sở chính: Số H, L, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP V1: Ông Đậu Sỹ Q, Giám đốc Ngân hàng TMCP V1 chi nhánh tỉnh L. Địa chỉ: Số A, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nông Thị B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình N làm nghề kinh doanh mặt hàng thiết bị gia đình. Khoảng cuối năm 2022, Dương Doãn V liên lạc với Vũ Đình N, thỏa thuận mua 07 chiếc quạt tích điện với giá 1.000.000 đồng/01 chiếc, tổng cộng là 7.000.000 đồng. Theo thỏa thuận, Vũ Đình N cử nhân viên giao hàng đến cho Dương Doãn V, khi nhận được quạt Dương Doãn V chưa thanh toán tiền ngay. Một thời gian sau, không thấy Dương Doãn V trả tiền nên Vũ Đình N liên lạc, yêu cầu Dương Doãn V thanh toán thì Dương Doãn V đề nghị trả lại quạt với lý do quạt tích điện chất lượng thấp, không bán được nhưng Vũ Đình N không đồng ý. Đến năm 2023, Vũ Đình N thuê Dương Doãn V sửa điều hòa với tiền công sửa là 600.000 đồng, số tiền này được Vũ Đình N trừ vào tiền nợ mua quạt trước đó. Sau khi trừ tiền, số tiền Dương Doãn V chưa thanh toán cho Vũ Đình N là 6.400.000 đồng.

Đến ngày 17/01/2025, do vẫn chưa thấy Dương Doãn V thanh toán tiền quạt cho mình nên khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Đình N cùng vợ là Âu Thị H đi xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu trắng, biển kiểm soát 12A-226.38 đến cửa hàng của Dương Doãn V tại số B, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để yêu cầu Dương Doãn V trả tiền quạt còn thiếu. Khi đến nơi, hai bên trao đổi nhưng không thống nhất được việc trả hàng và thanh toán tiền. Tại đây, Vũ Đình N nảy sinh ý định và nói với Dương Doãn V sẽ lấy tài sản trong cửa hàng của Dương Doãn V để trừ tiền nợ rồi trả cho Dương Doãn V số tiền chênh lệch nhưng Dương Doãn V không đồng ý. Thấy trong cửa hàng có nhiều thiết bị nhà bếp, Vũ Đình N đã tự ý lấy 01 (một) chiếc bếp điện từ ở trong cửa hàng của Dương Doãn V đi ra khỏi cửa hàng, mục đích lấy lên xe ô tô mang về trừ nợ. Thấy vậy, Dương Doãn V cùng vợ là Hoàng Thị Kim D1 chạy ra ngăn cản và giằng lấy lại được. Trong lúc Dương Doãn V đem bếp điện từ vào cửa hàng cất thì Âu Thị H lấy một chiếc tivi nhãn hiệu Casper, màu đen, 32 inches đang đặt trên kệ ở gần cửa ra vào, chạy ra khỏi cửa hàng rồi lấy lên xe ô tô của mình. Thấy vậy, Dương Doãn V và Hoàng Thị Kim D1 chạy ra giữ lại nhưng vợ chồng Vũ Đình N, Âu Thị H giằng co, kéo, ngăn cản, đẩy Dương Doãn V và Hoàng Thị Kim D1 ra rồi khóa cửa xe lại, không cho tiếp cận tài sản. Khi Dương Doãn V và Hoàng Thị Kim D1 không tiếp cận được tài sản, Vũ Đình N và Âu Thị H lên xe nhanh chóng rời đi khỏi hiện trường. Sau khi sự việc xảy ra, bà Hoàng Thị Kim D1 đã làm đơn gửi đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc.

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu đã thu giữ, tạm giữ gồm:

- 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, màu đen, kích thước 32 inches;

- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại E32HAC110, kích thước 32 inches trị giá 3.523.000 đồng; 01 (một) bếp điện từ Kocher loại DI-806GE02, chưa qua sử dụng trị giá 4.950.000 đồng, tổng cộng là 8.473.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Hình ảnh trong tập tin video mang tên “1.mp4", dung lượng 32,3Mb, thời lượng 08 phút 53 giây (trích xuất từ hệ thống Camera an ninh của Cửa hàng bán đồ điện tử của ông Dương Doãn V, số B, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn), được gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với 07 chiếc quạt tích điện, quá trình điều tra Vũ Đình N và Dương Doãn V tự thống nhất và thực hiện, ông Dương Doãn V trả 07 chiếc quạt tích điện cho Vũ Đình N. Tài sản này không bị hư hỏng gì, ông Vũ Đình N không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Ngày 12/02/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, màu đen, kích thước 32 inches cho đại diện chủ sở hữu là ông Dương Doãn V. Ông Dương Doãn V và bà Hoàng Thị Kim D1 xác nhận đã nhận lại đầy đủ chiếc bếp điện từ và chiếc ti vi không bị hư hỏng gì, không bị thiệt hại về tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38 là tài sản của vợ chồng Vũ Đình N và Âu Thị H mua vào cuối năm 2023, người đứng tên đăng ký xe là Âu Thị H, ngày 28/12/2023 được thế chấp với Ngân hàng TMCP V1 (V2) chi nhánh L theo hợp đồng cho vay số LN2312261365642. Hiện nay các bị cáo vẫn đang thực hiện hợp đồng, Ngân hàng TMCP V1 (V2) chi nhánh L yêu cầu các bị cáo tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và không có ý kiến gì thêm.

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Âu Thị H, Vũ Đình N về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản Cáo trạng, cụ thể, bị cáo Vũ Đình N trình bày ngày 17/01/2025, với mục đích đòi tiền của 07 chiếc quạt tích điện mà anh Dương Doãn V đã mua của các bị cáo, bị cáo và vợ là bị cáo Âu Thị H đã đến cửa hàng của anh Dương Doãn V, khi hai bên nói chuyện về việc trả tiền, trả hàng thì bị cáo Vũ Đình N nảy sinh ý định lấy tài sản của anh Dương Doãn V, đầu tiên bị cáo Vũ Đình N lấy chiếc bếp điện từ nhưng bị anh Dương Doãn V ngăn cản lại, sau đó bị cáo Vũ Đình N đã bảo bị cáo Âu Thị H lấy chiếc ti vi của anh Dương Doãn V. Về trách nhiệm bồi thường, vợ chồng bị hại anh Dương Doãn V và chị Hoàng Thị Kim D1 không yêu cầu bồi thường nhưng vợ chồng bị cáo vẫn tự nguyện bồi thường cho các bị hại số tiền 2.000.000đồng.

Bị cáo Âu Thị H trình bày: Lời khai của bị cáo Vũ Đình N tại phiên tòa là hoàn toàn đúng, bị cáo đã trực tiếp lấy chiếc hộp cattong để ở gần cửa mang lên xe ô tô, sau đó mới biết là chiếc ti vi, khi phát hiện vợ chồng anh Dương Doãn V đã ra giằng kéo lại chiếc ti vi nhưng vợ chồng bị cáo vẫn lấy được chiếc ti vi cho lên xe ô tô mang về nhà.

Bị hại chị Hoàng Thị Kim D1 trình bày nội dung sự việc như nội dung của bản cáo trạng, chị Hoàng Thị Kim D1 xác nhận đã nhận lại tài sản là chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, màu đen, kích thước 32 inches, chồng chị là anh Dương Doãn Việt B1 công việc không tham gia phiên tòa được nhưng đều thống nhất ý kiến với chị, quá trình điều tra vợ chồng chị không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa, vợ chồng bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho vợ chồng chị số tiền 2.000.000đồng. Chị và anh Dương Doãn V đã nộp đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V1 (V3) vắng mặt tại phiên tòa, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt và tại cơ quan điều tra, Giám đốc Ngân hàng TMCP V1 chi nhánh L, ông Đậu Sỹ Q trình bày: Ngày 28/12/2023 vợ chồng bị cáo Vũ Đình N và Âu Thị H đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38 để đảm bảo cho khoản vay với Ngân hàng, đến nay vợ chồng Vũ Đình N và Âu Thị H vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, chưa có vi phạm, tuy nhiên, chiếc xe ô tô là tài sản bảo đảm nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý phù hợp để Ngân hàng không bị ảnh hưởng quyền lợi.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình N và Âu Thị H đều phạm tội Cướp giật tài sản. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 50, 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Âu Thị H từ 12 tháng đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng; xử phạt bị cáo Vũ Đình N từ 14 tháng đến 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 30 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại số tiền 2.000.000đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38, do các bị cáo sử dụng chiếc xe trên để làm phương tiện ngăn cản các bị hại tiếp cận tài sản, cần xác định chiếc xe có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước với số tiền 200.000đồng.

Các bị cáo đều trình bày ý kiến tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc ô tô cho các bị cáo, do các bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi lại phục vụ kinh doanh, mục đích từ nhà đến cửa hàng bị hại là để đòi tiền, không có mục đích nào khác, khi đòi tiền do các bị hại không đồng ý đòi tiền nên bị cáo mới nảy sinh ý định lấy tài sản của các bị hại, hơn nữa, các bị cáo đang thế chấp chiếc xe tại Ngân hàng và phải trả nợ hàng tháng.

Bị hại Hoàng Thị Kim D1 không có ý kiến tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Trong vụ án này, xác định chiếc ô tô là vật chứng của vụ án, thực tế các bị cáo đã sử dụng chiếc xe để làm phương tiện ngăn cản các bị hại tiếp cận tài sản, sau đó sử dụng phương tiện chở chiếc ti vi rời đi. Như vậy, chiếc ô tô là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Về việc chiếc ô tô hiện nay đang là tài sản bảo đảm, các bị cáo chưa vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vay nên hợp đồng thế chấp vẫn được đảm bảo, trong trường hợp hai bên có tranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp thì sẽ được giải quyết theo thủ tục dân sự, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án này.

Các bị cáo và Kiểm sát viên đều giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Vũ Đình N trình bày bị cáo biết hành vi của mình đã sai, bị cáo xin được gửi lời xin lỗi đến các bị hại, do bị cáo còn non trẻ không lường trước được hậu quả của hành vi bản thân đã thực hiện, bị cáo mong được các bị hại tha thứ và được tiếp tục làm việc kinh doanh với các bị hại, kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, cải tạo tại địa phương để có cơ hội lao động, chăm sóc gia đình.

Bị cáo Âu Thị H trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, vợ chồng bị cáo còn có con nhỏ cần được sự chăm sóc của gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Dương Doãn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nhưng người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/01/2025, tại nhà số B đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, trong lúc nói chuyện với vợ chồng anh Dương Doãn V và chị Hoàng Thị Kim D1 về việc trả hàng và thanh toán nhưng chưa thống nhất được phương án giải quyết, bị cáo Âu Thị H đã có hành vi tự ý lấy 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại E32HAC110 màu đen, kích thước 32inches có giá trị 3.253.000đồng của anh Dương Doãn V và chị Hoàng Thị Kim D1, mục đích cùng với bị cáo Vũ Đình N đem chiếc ti vi lên ghế phụ xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38 để chiếm đoạt, thấy vậy, vợ chồng bị hại anh Dương Doãn V và chị Hoàng Thị Kim D1 ra giằng co, kéo các bị cáo để giành lại tài sản nhưng không được, các bị cáo cho chiếc ti vi lên xe ô tô rồi khóa cửa xe, sau đó rời đi.

[4] Hành vi nêu trên của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, không những gây tổn thất về vật chất cho các bị hại mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của cộng đồng, tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không kiểm soát được cảm xúc và hành vi khi nói chuyện, trao đổi việc trả nợ, các bị cáo đã cố ý thực hiện việc chiếm đoạt tài sản.

[6] Vụ án chỉ mang tính đồng phạm giản đơn, do các bị cáo không có sự chuẩn bị, bàn bạc việc chiếm đoạt tài sản từ trước, mà chỉ bột phát nhất thời thực hiện, nguyên nhân xuất phát từ tranh chấp dân sự đòi số tiền 6.400.000đồng, quá trình tranh luận cách thức trả tiền, trả hàng, khi hai bên chưa thống nhất được bị cáo Vũ Đình N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để trừ nợ. Trong vụ án, xác định bị cáo Âu Thị H có vai trò thấp hơn bị cáo Vũ Đình N, bị cáo Âu Thị H là người trực tiếp lấy tài sản nhưng bị cáo Vũ Đình N là người khởi xướng, tham gia giành giật chiếm giữ tài sản cũng như cản trở bị hại tiếp cận tài sản.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án, bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo còn được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; trong quá sinh sống tại địa phương, các bị cáo đã hỗ trợ kinh phí tham gia chương trình tình nguyện “Tháng Ba biên giới - Biên cương Tổ quốc tôi” năm 2025 được Ban chấp hành Đoàn khối các Cơ quan Ủy ban nhân dân tỉnh - chứng nhận; bị cáo Âu Thị H có mẹ đẻ và bị cáo Vũ Đình N có bố đẻ được chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, vì vậy, các bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cùng với tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo như phân tích ở trên, nhận thấy các bị cáo là vợ chồng đang có con nhỏ sinh năm 2022, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly ra khỏi xã hội, mà cần tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, để có cơ hội chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nhỏ và lao động sản xuất, như vậy cũng đủ sự răn đe, giáo dục các bị cáo, mà vẫn đảm bảo tính phòng ngừa chung.

[9] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại được tài sản 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại E32HAC110 màu đen, kích thước 32inches, quá trình điều tra không có yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại số tiền 2.000.000đồng, các bị hại không có yêu cầu gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác nhận việc bồi thường nói trên theo quy định của pháp luật.

[11] Về việc xử lý vật chứng: Các bị cáo bị thu giữ 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38. Xét thấy, chiếc xe là phương tiện các bị cáo sử dụng để đi lại, hiện nay đang thế chấp với Ngân hàng TMCP V1 chi nhánh L để đảm bảo cho khoản vay với mục đích mua xe ô tô du lịch; ngày xảy ra sự việc, các bị cáo đến cửa hàng của các bị hại với mục đích đòi tiền, quá trình nói chuyện mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, như vậy, chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12A-226.38 không được sử dụng vào mục đích làm phương tiện, công cụ để chiếm đoạt tài sản, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại cho các bị cáo chiếc xe trên không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, mà còn đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng trong việc nhận thế chấp tài sản. Vì vậy, cần xem xét trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38 cho các bị cáo.

[12] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Xét thấy, nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tại phiên tòa đối với các bị cáo cơ bản là phù hợp, riêng đề nghị về việc xử lý vật chứng chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trừ đề nghị về việc xử lý vật chứng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; 17, 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Âu Thị H và Vũ Đình N phạm tội Cướp giật tài sản.

  2. Về hình phạt:

    - Xử phạt bị cáo Âu Thị H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.

    - Xử phạt bị cáo Vũ Đình N 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 (hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

    Giao các bị cáo Âu Thị H, Vũ Đình N cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận các bị cáo Âu Thị H, Vũ Đình N đã bồi thường thiệt hại xong cho các bị hại chị Hoàng Thị Kim D1 và anh Dương Doãn V số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng).

  4. Về xử lý vật chứng:

    Trả lại cho các bị cáo 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Seltos, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12A-226.38, đã qua sử dụng, số khung RNYEH51D7PC321733, số máy G4LD8D208118.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).

  5. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ; CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn (2b);
  • Chi cục THADS TP. Lạng Sơn;
  • - Các Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ÂU THỊ H, VŨ ĐÌNH N - CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger