TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày: 20 -6 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
2. Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh và bà Lê Quỳnh A - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 06 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Bị cáo: Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 09/11/1991, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã N, Thanh Hóa; Số CCCD: [...], cấp ngày 02/01/2023; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Viên chức; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H và bà Lê Thị H1; có chồng là Trần Thế H2 và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022. Bị cáo là Đảng viên và hiện nay đã bị khai trừ khỏi Đảng theo Quyết định số 223 – QĐ/UBKTTU ngày 11/6/2025 của UBKT thị ủy N2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 13/5/2025. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Bị hại: Bệnh viện Đ2, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo Pháp luật: Ông Lê Kim Đ – Chức vụ: Giám đốc bệnh viện Đ2, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; Nơi cư trú: TK5, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Đậu Xuân C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Lê Văn C1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: TDP V, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bà Đàm Thị H3, sinh năm 1969; Nơi cư trú: TDP X, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Mai Thị H4, sinh năm 1992; Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Trần Thị T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: TDP T, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1985; Nơi cư trú: TDP P, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: TDP V, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lê Thị N, sinh năm 1991; Nơi cư trú: TDP H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Mai Thị N1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: TDP X, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lê Thị H5, sinh năm 1990; Nơi cư trú: TDP V, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lê Thị T2, sinh năm 1982; Nơi cư trú: TK3, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện theo Pháp luật của bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1991, Trú tại thôn T, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa là kế toán viên làm tại Phòng tài chính kế toán bệnh viện Đ2 theo Quyết định số 24/QĐ – SYT ngày 14/01/2015 của Sở y tế phê duyệt kết quả tuyển dụng viên chức và hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ - CP. Căn cứ vào bảng phân công nhiệm vụ của Phòng T3, thì T có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ, làm thủ tục thanh toán tiền viện phí, tạo lập phiếu thu và thu tiền viện phí do bệnh nhân nộp, sau đó tổng hợp các khoản tiền viện phí ngoài danh mục bảo hiểm trong ngày chuyển cho kế toán tổng hợp và nộp khoản tiền phần trăm bảo hiểm bệnh nhân chi trả về bộ phận quỹ bệnh viện. Ngoài ra, T còn được giao nhiệm vụ hướng dẫn các khoa chỉnh sửa lại thông tin đối với các trường hợp bệnh án có thanh toán Bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, gửi thông tin về bệnh viện.
Trong khoảng thời gian từ ngày 02/7/2018 đến ngày 13/9/2024, T đã lợi dụng quyền hạn của mình và sự sơ hở trong quản lý thu nộp viện phí của bệnh viện Đ2 để thực hiện hành vi chiếm đoạt một phần viện phí ngoài danh mục bảo hiểm của Bệnh viện để sử dụng chi tiêu cá nhân. Thủ đoạn chiếm đoạt của T được thực hiện cụ thể như sau:
Sau khi làm xong thủ tục thanh toán Viện phí cho bệnh nhân, T sử dụng tài khoản của mình trên phần mềm quản lý của Bệnh viện có tên là “Minh lộ” để huỷ các thanh toán hoàn thành trước đó, xoá phiếu ra viện của bệnh nhân và xoá phiếu thu. Đồng thời thông qua công việc giúp các khoa chỉnh sửa thông tin các trường hợp bệnh án có thanh toán bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, T biết được tài khoản cá nhân của một số cán bộ, viên chức trong các khoa của bệnh viện, gồm: Tài khoản của bà Đàm Thị H3, bà Lê Thị T2, bà Nguyễn Thị M, bà Mai Thị N1, bà Lê Thị H5 ở khoa sản; bà Trần Thị T1, bà Mai Thị H4, ông Nguyễn Văn K ở khoa ngoại; anh Lê Văn C1, anh Đậu Xuân C ở khoa chẩn đoán hình ảnh; bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Đ1 ở khoa xét nghiệm. T đã sử dụng các tài khoản này để thực hiện việc xoá một số chỉ định ngoài danh mục bảo hiểm, huỷ kết quả cận lâm sàng của chỉ định đã xoá, sau đó T lập phiếu thu mới tương ứng với số tiền thanh toán các chỉ định còn lại để chiếm đoạt số tiền bệnh nhân thanh toán các chỉ định đã bị xoá.
Căn cứ kết quả khai thác phần mềm “Minh Lộ” xác định trong khoảng thời gian từ ngày 07/2/2018 đến ngày 13/9/2024, T đã thực hiện tổng số 1.429 lượt huỷ hồ sơ bệnh nhân, chiếm đoạt của Bệnh viện Đ2 số tiền là 222.797.200₫ (Hai trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm chín bảy nghìn, hai trăm đồng).
Đến ngày 01/10/2024, Bệnh viện Đ3 S phát hiện hành vi của Nguyễn Thị Huyền T nên đã trình báo đội An Ninh Công an thị xã N. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Đội An ninh Công an thị xã N đã chuyển thông tin vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận và thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi chiếm đoạt tiền viện phí thanh toán ngoài danh mục bảo hiểm bệnh nhân thanh toán cho Bệnh viện Đ2 mà bị cáo được giao quản lý thu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện Bệnh viện, lời khai của những người có liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSNS, ngày 09/06/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Thị Huyền T về tội “Tham ô tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 BLHS, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố Nguyễn Thị Huyền T, phạm tội “Tham ô tài sản”.
Đề nghị xử phạt bị cáo 36 (ba sáu) đến 42 (bốn hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bệnh viện Đ2 toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Đại diện bệnh viện Đ2 không có yêu cầu đề nghị gì thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với việc vắng mặt người đại diện theo pháp luật bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra, trước khi mở phiên toà đại diện theo Pháp luật của bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo, đại diện bị hại và những người có liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/7/2018 đến ngày 13/9/2024, Nguyễn Thị Huyền T sử dụng tài khoản của mình trên phần mềm quản lý của Bệnh viện có tên là “Minh lộ” để huỷ thanh toán hoàn thành trước đó, xoá phiếu ra viện của bệnh nhân và xoá phiếu thu. Đồng thời thông qua công việc giúp các khoa chỉnh sửa thông tin các trường hợp bệnh án có thanh toán bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, T biết được tài khoản cá nhân của một số cán bộ, viên chức trong các khoa được quản lý trong phần mềm của bệnh viện, gồm: Tài khoản của bà Đàm Thị H3, bà Lê Thị T2, bà Nguyễn Thị M, bà Mai Thị N1, bà Lê Thị H5 ở khoa sản; bà Trần Thị T1, bà Mai Thị H4, ông Nguyễn Văn K ở khoa ngoại; anh Lê Văn C1, anh Đậu Xuân C ở khoa chẩn đoán hình ảnh; bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Đ1 ở khoa xét nghiệm. T đã sử dụng các tài khoản này để thực hiện việc xoá một số chỉ định ngoài danh mục bảo hiểm, huỷ kết quả cận lâm sàng của chỉ định đã xoá, sau đó T lập phiếu thu mới tương ứng với số tiền thanh toán các chỉ định còn lại để chiếm đoạt số tiền bệnh nhân thanh toán các chỉ định đã bị xoá. Lợi dụng sự sơ hở trong việc thu nộp viện phí của Bệnh viện Đ2 để thực hiện hành vi chiếm đoạt một phần viện phí ngoài danh mục bảo hiểm để sử dụng chi tiêu cá nhân. Tổng số tiền T chiếm đoạt của bệnh viện Đ2 là 222.797.200₫ (Hai trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm chín bảy nghìn, hai trăm đồng).
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người của đại diện Bệnh viện, những người có liên quan, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 BLHS.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. T đã lợi dụng việc giúp các khoa chỉnh sửa thông tin các trường hợp bệnh án có thanh toán bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, nên biết được các tài khoản của họ trên phần mềm quản lý của bệnh viện. T đã sử dụng các tài khoản này để thực hiện việc xoá một số chỉ định ngoài danh mục bảo hiểm, huỷ kết quả cận lâm sàng của chỉ định đã xoá, sau đó T lập phiếu thu mới tương ứng với số tiền thanh toán các chỉ định còn lại để chiếm đoạt số tiền bệnh nhân thanh toán các chỉ định đã bị xoá. Những người này không biết T xoá các thông tin chỉ định trên tài khoản của họ và cũng không giúp sức hay hưởng lợi gì từ việc phạm tội của T nên những người này không đồng phạm với tội phạm mà T đã thực hiện.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao của mình để chiếm đoạt số tiền viện phí ngoài danh mục bảo hiểm của bệnh viện Đ2 là 222.797.200₫ (Hai trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm chín bảy nghìn, hai trăm đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu, xâm phạm đến uy tín, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện theo pháp luật của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bên cạnh đó trong quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng giấy khen nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ, trong môi trường cải tạo nghiêm khắc trong một thời hạn nhất định để trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.Tuy nhiên do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để xử cho bị cáo mức án dưới khung hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của Pháp luật, để bị cáo yên tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với cộng đồng trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Xét về phần hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên xét thấy bị cáo bị áp dụng hình phạt tù, bên cạnh đó bị cáo đang phải nuôi 02 con nhỏ, bị cáo không còn đảm nhiệm chức vụ gì tại Bệnh viện Đ2, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Xét về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho Bệnh viện Đ2 là 222.797.200₫ (Hai trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm chín bảy nghìn, hai trăm đồng). Đại diện cho Bệnh viên đa khoa khu vực N không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trước khi mở phiên toà đã có đơn xin xét xử vắng mặt và việc T sử dụng tài khoản của họ để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của bệnh viện, nhưng không ảnh hưởng gì đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ nên không có yêu cầu gì đối với T nên HĐXX không xem xét.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ : Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Nguyễn Thị Huyền T phạm tội “Tham ô tài sản”.
3. Xử phạt: Nguyễn Thị Huyền T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Vắng mặt người đại diện theo Pháp luật của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Viết Chiến |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/7/2018 đến ngày 13/9/2024, Nguyễn Thị Huyền Trang sử dụng tài khoản của mình trên phần mềm quản lý của Bệnh viện có tên là “Minh lộ” để huỷ thanh toán hoàn thành trước đó, xoá phiếu ra viện của bệnh nhân và xoá phiếu thu. Đồng thời thông qua công việc giúp các khoa chỉnh sửa thông tin các trường hợp bệnh án có thanh toán bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, Trang biết được tài khoản cá nhân của một số cán bộ, viên chức trong các khoa được quản lý trong phần mềm của bệnh viện, gồm: Tài khoản của bà Đàm Thị Hoa, bà Lê Thị Tuyết, bà Nguyễn Thị Mai, bà Mai Thị Ngân, bà Lê Thị Hương ở khoa sản; bà Trần Thị Tú, bà Mai Thị Hà, ông Nguyễn Văn Khoa ở khoa ngoại; anh Lê Văn Chiến, anh Đậu Xuân Công ở khoa chẩn đoán hình ảnh; bà Lê Thị Ngân, bà Nguyễn Thị Đông ở khoa xét nghiệm. Trang đã sử dụng các tài khoản này để thực hiện việc xoá một số chỉ định ngoài danh mục bảo hiểm, huỷ kết quả cận lâm sàng của chỉ định đã xoá, sau đó Trang lập phiếu thu mới tương ứng với số tiền thanh toán các chỉ định còn lại để chiếm đoạt số tiền bệnh nhân thanh toán các chỉ định đã bị xoá. Lợi dụng sự sơ hở trong việc thu nộp viện phí của Bệnh viện đa khoa khu vực Nghi Sơn để thực hiện hành vi chiếm đoạt một phần viện phí ngoài danh mục bảo hiểm để sử dụng chi tiêu cá nhân. Tổng số tiền Trang chiếm đoạt của bệnh viện đa khoa khu vực Nghi Sơn là 222.797.200đ (Hai trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm chín bảy nghìn, hai trăm đồng). Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người của đại diện Bệnh viện, những người có liên quan, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 BLHS. Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trang đã lợi dụng việc giúp các khoa chỉnh sửa thông tin các trường hợp bệnh án có thanh toán bảo hiểm xã hội bị Cơ quan bảo hiểm xã hội báo lỗi, nên biết được các tài khoản của họ trên phần mềm quản lý của bệnh viện. Trang đã sử dụng các tài khoản này để thực hiện việc xoá một số chỉ định ngoài danh mục bảo hiểm, huỷ kết quả cận lâm sàng của chỉ định đã xoá, sau đó Trang lập phiếu thu mới tương ứng với số tiền thanh toán các chỉ định còn lại để chiếm đoạt số tiền bệnh nhân thanh toán các chỉ định đã bị xoá. Những người này không biết Trang xoá các thông tin chỉ định trên tài khoản của họ và cũng không giúp sức hay hưởng lợi gì từ việc phạm tội của Trang nên những người này không đồng phạm với tội phạm mà Trang đã thực hiện.
