|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày: 15-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Đóa.
- Ông Đậu Cao Nhu.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025. Phiên tòa được xét xử theo hình thức trực tuyến. Điểm cầu chính: trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An. Điểm cầu thành phần: tại Trại giam Công an tỉnh N. Hỗ trợ tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N: ông Nguyễn Văn S - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Trung T (tên gọi khác: không); sinh ngày: 17/4/1988 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn T, xã Q, tỉnh Nghệ An; số Căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Văn T1 và bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: từ ngày 16/9/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/8/2025, Đàm Trung T bị lập Biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trạm Y tế Q (Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 18/8/2025). Triệu đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngày 18/8/2025, Ủy ban nhân dân xã Q ra Quyết định cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng đối với Triệu trong thời hạn từ ngày 18/8/2025 đến ngày 18/8/2026.
Ngày 03/9/2025, T mua 03 viên ma túy hồng phiến của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đưa vào nghĩa địa dưới chân núi H thuộc thôn T, xã Q sử dụng.
Ngày 04/9/2025, Công an xã Q phối hợp với Trạm Y tế Q tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng hình thức test chất ma túy trong nước tiểu đối với T. Kết quả T dương tính với chất ma túy nhóm M. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N phối hợp với Trạm Y tế Q tiến hành lấy nước tiểu của T để trưng cầu giám định.
Kết luận giám định độc chất số 718/1011/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 11/9/2025 của V - Bộ Y xác định có tìm thấy A và M trong mẫu nước tiểu của T.
Bản cáo trạng số 26/CT-VKSKV4 ngày 17/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An truy tố Đàm Trung T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Trung T từ 24-27 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đàm Trung T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đàm Trung T thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định độc chất, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Đàm Trung T là người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định, đang trong thời gian cai nghiện tại cộng đồng (từ ngày 18/8/2025 đến ngày 18/8/2026) theo quy định tại Điều 30 Luật phòng, chống ma túy năm 2021, ngày 03/9/2025 có hành vi sử dụng trái phép ma túy Methamphetamin. Bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn cai nghiện, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe, tính mạng, sự an toàn của con người và chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông ngoại (ông Nguyễn Mạnh H1) được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Xét thấy hành vi của bị cáo không chỉ gây hậu quả xấu về sức khỏe, cuộc sống của bản thân và gia đình mà còn gây mất trật tự trị an địa phương nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo. Xử phạt bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Xe máy biển kiểm soát 37P7-4437 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H, bị cáo sử dụng đi mua ma túy, bà H không biết, nên không bị xử lý.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Đàm Trung T 25 (hai lăm) tháng tù, về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 16/9/2025).
- Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Đàm Trung T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Trung Tr phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
