Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày 14/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Việt Anh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn
  • Bà Đào Phương Mai
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng – Thư ký Toà án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Vinh Q, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1978; tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số A chắn E T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Âu Thị Q1;

Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự (ngoài thời hiệu)

Nhân thân:

  • - Ngày 23/6/1995, Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng - ngoài thời hiệu.
  • - Ngày 14/01/2025, Công an quận H khởi tố bị can và tạm giam về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H theo Lệnh tạm giam số 94/LTG-ĐCSMT ngày 14/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Ngọc B, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1996; tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số I N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số A ngõ G T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độc học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh T1 và bà Lê Thúy Á; Có vợ là Lê Ngọc Hồng H; Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án (đã xóa án tích)

Nhân thân:

  • - Ngày 22/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (AS: 74/HSST). Thi hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2021, xác minh đã nộp án phí - Án tích đã được xóa.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đỗ Anh Đ1, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1993; tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số A G, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độc học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Tuấn A và bà Phạm Kim A1;

Tiền án, tiền sự: 02 tiền sự (ngoài thời hiệu)

Nhân thân:

  • - Năm 2017, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Tháng 6/2021, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 21 tháng cai nghiện bắt buộc tại TT06.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 13/6/2024, Phạm Ngọc B và Nguyễn Vinh Q tranh giành khách dẫn đến mâu thuẫn. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B điều khiển xe máy mời khách dưới lòng đường P (đoạn đối diện 159B P) thì Q tiếp tục chửi B. Q chúi đầu vào mặt B nói: “mày đánh đi”, B dùng tay phải đấm vào cổ và mặt Q, Q dùng chân đá vào người B làm rơi kính xuống đường. Lúc này, Nguyễn Trọng T2 (sinh năm: 1977; Nơi cư trú: số F chắn E T, phường C, quận H, Hà Nội) dùng hai tay ôm ghì B xuống để can ngăn. Q dừng lại không đánh nhau với B thì Đỗ Anh Đ1 dùng chân phải đá vào vùng mặt – ngực, tay đấm vào mặt của T2 nhưng không trúng. Được mọi người can ngăn và Công an phường C đến yêu cầu Q, B, Đ1 và T2 về trụ sở làm việc.

Thu giữ của bà Bùi Anh T3 (sinh năm: 1959; Nơi cư trú: A P, phường C, quận H, Hà Nội): 01 USB bên trong có chứa hình ảnh vụ việc đánh nhau gây rối trật tự công cộng xảy ra hồi 17h10' ngày 13/6/2024 tại lòng đường trước A P, phường C, quận H, Hà Nội; thu giữ của Phạm Ngọc B: 01 kính cận có gọng kình màu vàng, mắt kính bên trái bị vỡ.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 14/6/2024 tại Công an phường C xác định thương tích của:

  • - Nguyễn Trọng T2: Không phát hiện thương tích gì trên cơ thể, đầu mặt.
  • - Nguyễn Vinh Q: 01 vết bầm tím xung quanh mắt phải.
  • - Phạm Ngọc B: Trên mí mắt bên trái có vết xước, bầm tím dài khoảng 1,5cm; trên vùng cổ có vết xước đỏ, dài khoảng 2cm; Tại vùng đầu gối bên phải có vết trầy xước rộng khoảng 2cm.

Giấy chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của Bệnh viện Đ2 ngày 14/6/2024 của Nguyễn Trọng T2 xác định: Bệnh nhân tỉnh, G15 điểm, đau đầu, buồn nôn, nôn 1 lần; Đồng tử đều 2 bên; Không liệt yếu; CTSN: không thấy máu tụ nội sọ.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích và Quyết định dẫn giải Nguyễn Trọng T2, Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B đi giám định thương tích nhưng T2, Q và B kiên quyết từ chối.

Biên bản làm việc ngày 30/9/2024 với UBND phường C xác định: sự việc xảy ra gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự công cộng của địa bàn phường C gây mất mỹ quan đô thị. UBND phường đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H có biện pháp xử lý, răn đe phù hợp với các đối tượng có liên quan đề nhằm giáo dục và hạn chế các cơ sở kinh doanh khác trong quá trình kinh doanh tránh xảy ra mâu thuẫn, gây mất an ninh, trật tự.

Như vậy, các bị can Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B và Đỗ Anh Đ1 đã có hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng vào giờ cao điểm tại nơi công cộng, đông người qua lại gây tụ tập đông người làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. UBND phường C đã có yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật nên cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Q, B và Đ1 theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Vinh Q khai: Giữa Q và B có sự việc tranh giành khách dẫn đến đánh nhau vào chiều tối ngày 13/6/2024 như đã nêu trên. Q chỉ bị xây xát ngoài da, thương tích không đáng kể, Q không yêu cầu giám định thương tích. Khi đánh nhau với B – Đức, Q không sử dụng hung khí gì.

Phạm Ngọc B khai phù hợp với nội dung vụ án. Trong lúc đánh nhau, B đã bị Q dùng tay, chân đấm, đá vào mặt; dùng đầu đập vào đầu B làm vỡ mắt kính bên trái. Khi B đang đánh nhau với Q thì Đ1 bị T2 ôm ghì xuống đường nên Q và B không đánh nhau nữa. Bách không có thương tích gì đáng kể nên không yêu cầu giám định thương tích. Bách đã được Q bồi thường dân sự nên không có yêu cầu đề nghị gì khác

Đỗ Anh Đ1 khai: Đ1 không biết nguyên nhân dẫn đến sự việc chiều tối ngày 13/6/2024, Đ1 chỉ nghe kể là B bị đánh ở dưới đường nên Đ1 chạy đến. Lúc này thấy T2 đang ôm ghì B xuống lòng đường nên Đ1 xông vào, dùng chân phải đá 01 cái vào vùng mặt ngực T2, dùng tay đấm vào mặt T2 nhưng không trúng. Bị Đ1 đánh, T2 bỏ B ra rồi lùi về sau. Đ1 không bị thương tích gì và không thấy ai sử dụng vũ khí.

Nguyễn Trọng T2 khai sự việc như đã nêu trên. T2 thấy Q và B đánh nhau nên đã ôm lấy Bách nhằm can ngăn, Đ1 lao đến dùng chân đá vào T2 nên T2 đứng lên. Sau đó, mọi người xung quanh can ngăn nên tất cả giải tán rồi đến Công an phường C để giải quyết. T2 không đánh B và không có thương tích đáng kể nên không yêu cầu gì khác. Xét thấy, hành vi của Nguyễn Trọng T2 là can ngăn Phạm Ngọc B đánh nhau với Nguyễn Vinh Q nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B và Đỗ Anh Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Vinh Q. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vinh Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 đối với bị cáo Phạm Ngọc B. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Ngọc B từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Anh Đ1. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Anh Đ1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • - Về vật chứng: Không
  • - Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B, Đỗ Anh Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 13/6/2024 tại lòng đường P – đoạn đối diện A P, phường C, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B và Đỗ Anh Đ1 có hành vi dùng chân tay không đánh nhau làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Ngọc B đã được nhận bồi thường của Nguyễn Vinh Q nên không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Sự việc các đối tượng đánh nhau tại khu vực lòng đường P - Hà Nội đã gây ra bức xúc, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự. UBND phường C đã có ý kiến bằng văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H có biện pháp xử lý, răn đe phù hợp với các đối tượng có liên quan để nhằm giáo dục và hạn chế các cơ sở kinh doanh khác trong quá trình kinh doanh tránh xảy ra mâu thuẫn, gây mất an ninh, trật tự.

Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B và Đỗ Anh Đ1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện:

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì sự việc tranh giành khách dẫn đến đánh nhau. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây hậu quả làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại đại phương, gây hoang mang bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, việc cần thiết phải xét xử nghiêm minh và có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án:

Q là người chửi bới, có hành vi thách thức với B để đánh nhau trước, dẫn đến việc B dùng tay phải đấm vào cổ và mặt Q, bị cáo Q cũng là người thực hiện tích cực, dùng chân đá vào người B làm rơi kính xuống. Còn bị cáo Đ1 là em họ của B, nghe kể B bị đánh dưới đường nên Đ1 chạy đến bênh vực và thấy T2 đang ôm ghì B xuống lòng đường nên Đ1 xông vào dùng chân phải đá 01 cái vào vùng mặt ngực T2, dùng tay đấm vào mặt T2 nhưng không trúng. Do đó, mức hình phạt của bị cáo Q cao hơn các bị cáo khác là có căn cứ.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Vinh Q 01 tiền sự (ngoài thời hiệu) về hành vi Gây rối trật tự công cộng, trong thời gian tại ngoại bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, hiện bị cáo đang bị Công an quận H khởi tố bị can và tạm giam về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo Phạm Ngọc B có 01 tiền án (đã xóa án tích) về hành vi Trộm cắp tài sản; Bị cáo Đỗ Anh Đ1 có 02 tiền sự (ngoài thời hiệu) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị xử phạt cai nghiện bắt buộc tại TT06. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Ông ngoại bị cáo Phạm Ngọc B là người có công cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Bị cáo Đỗ Anh Đ1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Anh Đ1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Ngọc B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: bị cáo Nguyễn Vinh Q đã vi phạm pháp luật, nhưng trong thời gian tại ngoại chờ xét xử, không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội mới nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Đối với các bị cáo Đỗ Anh Đ1 và Phạm Ngọc B xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Phạm Ngọc B, Đỗ Anh Đ1 cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và đúng quy định pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Không

[7] Biện pháp tư pháp: Không

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B, Đỗ Anh Đ1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Vinh Q.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Vinh Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc B.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc B 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Anh Đ1.
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Anh Đ1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B và Đỗ Anh Đ1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - CQCSĐT Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Cơ quan THA Hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Trại tạm giam số II – Công an TP Hà Nội.
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Việt Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vinh Q, Phạm Ngọc B, Đỗ Anh Đ1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger