Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Lê Hữu Luân;
  • - Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Bá Thứ – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn R (đã chết) và bà Lê Thị H, không rõ năm sinh; Vợ: Hà Thị Bích H1, con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2003

Tiền án: có 01 tiền án

- Ngày, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 77/2023/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2024 nhưng chưa đóng án phí.

Tiền sự: không

Nhân thân:

  • - Ngày, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” theo bản án số 51/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 23/9/1992, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/3/1995 và đã đóng án phí sơ thẩm.
  • - Ngày 28/4/1997, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Cướp tài sản của công dân” theo bản án số 647/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/1996, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2000.
  • - Ngày 21/4/2008, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 56 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 40/2008/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2007, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2011 và đã đóng án phí sơ thẩm.
  • - 29/5/2014, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 20 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 36/2014/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2015 và đã đóng án phí sơ thẩm.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị B: Vắng mặt

Địa chỉ: B, Q, Đ, Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ ngày 13/9/2024, Lê Minh T đến Bến xe miền Đ (địa chỉ: số B đường Đ, Phường B, quận B) để đón xe về Bình Dương. Lúc này, điện thoại di động Samsung A70 của T bị hết pin nên T đến trước quầy vé số 87, bến xe miền Đ để cắm sạc nhưng không sạc được. Tại đây, T thấy 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh của chị Nguyễn Thị B đang cắm sạc, chị B đang nằm ngủ nên T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại trên. Đến 11 giờ 59 phút cùng ngày, T đến quầy sạc điện thoại di động lấy điện thoại chị B tháo ốp lưng điện thoại ra, lấy điện thoại mình gắn vào ốp lưng điện thoại chị B rồi để lại chỗ cũ. Lúc này, anh Nguyễn Thanh H2 (là nhân viên trực camera của bến xe) nhìn thấy qua camera nên thông báo cho bảo vệ biết. Khi T lấy được điện thoại đã trộm được của chị B bỏ đi ra bãi đỗ xe buýt cổng C thì bị bảo vệ bắt giữ, thu giữ điện thoại T vừa trộm được và đưa T lên công an P.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản kết luận định giá số 251/KLĐGTS-TCKH ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh – 64GB có giá trị là 500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, số Imei 1: 865732059687337; Imei 2: 865732059687329, là điện thoại của chị Nguyễn Thị B. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là chị B.
  • - 01 điện thoại di động Samsung A70 màu đen, bị bể màn hình (là điện thoại của T)
  • - 01 ốp lưng màu xanh.
  • - 01 áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu vàng; 01 đôi giày da màu đen (là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp).

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSBT ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 02 (hai) năm đến 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm Sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh – 64GB, tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị là 500.000 đồng, nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được lén lút trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, khi lượng hình cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị B đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động Samsung A70 màu đen, bị bể màn hình (là điện thoại của T, 01 ốp lưng màu xanh của T là vật liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy
  • - 01 áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu vàng; 01 đôi giày da màu đen là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp nên tịch thu tiêu hủy

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu vàng; 01 đôi giày da màu đen; 01 điện thoại di động Samsung A70 màu đen, bị bể màn hình, 01 ốp lưng màu xanh

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh và cơ quan Cảnh sát Điều tra công an quận B).

- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Công an TP.Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Chi cục THA dân sự Q. Bình Thạnh;
  • - Lưu: VP, HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Thành - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger