|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/HS-ST
Ngày 13 – 6 – 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thiện Lợi – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lý Tự Trọng, thành phố Thái Bình.
- Bà Hoàng Thị Phụng – Nguyên Chủ tịch Hội chữ thập đỏ thành phố Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
- Phạm Thế Anh T, sinh ngày 26/11/2008, tại Thái Bình
- Vũ Thành Đ1, sinh ngày 05/7/2007, tại Thái Bình
- Vũ Trường P, sinh ngày 09/9/2009, tại Thái Bình
Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Học sinh; học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Thế Đ, sinh năm 1982 và bà: Nguyễn Thị Biên T1, sinh năm 1990; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Quang H, sinh năm 1984 và bà: Hòa Thị T2, sinh năm 1988; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Quang H, sinh năm 1984 và bà: Hòa Thị T2, sinh năm 1988; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T tỉnh Thái Bình.
(Các bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thế Anh T: Ông Phạm Thế Đ, sinh năm 1982/bà Nguyễn Thị Biên T1, sinh năm 1990; đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình (là bố mẹ đẻ của bị cáo Phạm Thế Anh T), (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Thành Đ1 và bị cáo Vũ Trường P: Ông Vũ Quang H, sinh năm 1984/bà Hòa Thị T2, sinh năm 1988; trú tại: Thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. (là bố mẹ đẻ của bị cáo Vũ Thành Đ1 và Vũ Trường P). (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thế Anh T, bị cáo Vũ Thành Đ1 và bị cáo Vũ Trường P: Bà Trần Thị Hà P1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt).
* Bị hại: Anh Lê Đức H1, sinh ngày 03/02/2008; trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1984; trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (là bố mẹ đẻ của anh Lê Đức H1). (có mặt).
* Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trịnh Hải L, sinh ngày 20/7/2008; trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
- Anh Phạm Ngọc T3, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh Trịnh Hải L: Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1980/bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1983; đều trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
* Người làm chứng khác:
- Anh Mai Hoàng Đ2, sinh ngày 30/10/2008; trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1959; trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
- Ông Lã Quý D, sinh năm 1987; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh Mai Hoàng Đ2: Ông Mai Văn P2, sinh năm 1983/ bà Hoàng Thị M, sinh năm 1986; đều trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (là bố mẹ đẻ của anh Mai Hoàng Đ2). (Vắng mặt).
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 07/12/2024, Phạm Thế A1 T và Vũ Trường P đến quán nước “Mộc” ở xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình để uống nước. Quá trình ngồi uống nước T và P rủ nhau tối cầm theo kiếm đi lên thành phố T, tỉnh Thái Bình để tìm nhóm thanh niên lạ mặt nếu thấy ngứa mắt thì chặt biển số xe, cả hai đều đồng ý và hẹn 19 giờ cùng ngày đi sang quán nước “Gió” ở gần sân vận động xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình uống nước rồi đi. Sau khi về nhà P rủ anh trai mình là Vũ Thành Đ1 tối đi cùng với P và T lên thành phố T tìm nhóm thanh niên lạ mặt thấy ngứa mắt thì chặt biển số xe, Đ1 đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày T điều khiển xe máy nhãn hiệu Victoria màu sơn xanh nước biển, biển số đăng ký 17AA- 733.76 đến nhà P. T đứng ở ngoài cổng đợi P, P từ trong nhà đi ra cầm theo 01 thanh kiếm làm bằng kim loại sáng màu dài khoảng 80cm gặp T, P bảo có anh trai là Đ1 đi cùng và bảo đợi Đ1 ra rồi đi, T đồng ý. Một lúc sau Đ1 dắt xe máy nhãn hiệu Victoria màu sơn xanh N1, biển số đăng ký 17AA- 433.43 từ trong nhà đi ra. Thấy vậy T điều khiển xe máy của mình đi về nhà bà nội ở thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình lấy một thanh kiếm làm bằng kim loại sáng màu dài khoảng 86cm rồi dắt ở sườn xe máy sau đó điều khiển đi đến nhà P và Đ1 để cùng đi. Đ1 điều khiển xe máy biển số 17AA- 433.43 chở P ngồi sau (P dắt thanh kiếm mang theo vào sườn xe máy) còn T một mình đi xe máy biển số 17AA - 733.76 (có dắt thanh kiếm ở sườn xe) cùng nhau đi sang quán “Gió” ở gần sân vận động xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình để uống nước. Khi đến quán T, Đ1, P ngồi uống nước đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì cả ba rủ nhau đi lên thành phố T để chặt biển số xe. Khi đi ra đến cổng sân vận động thì T rủ Đ1 và P “Cướp thêm ít tiền để uống nước và đổ xăng đi về”, ý T rủ Đ1 và P khi lên thành phố T chặt biển số xe thì cướp thêm ít tiền để uống nước và lấy tiền đổ xăng đi về. Đ1 và P đáp: “OK”. Sau đó T bảo Đ1 và P đi kiếm cái gì đó để che biển số xe lại. P chở Đ1 đi đến quán T4 ở gần đó mua một cuộn băng dính điện màu đen về dán biển số của 02 xe máy lại. Sau đó cả ba đi theo đường quốc lộ 10, trên đường đi thì P lại xuống ngồi sau để Đ1 điều khiển chở. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến đường L, phường H thì cả ba đi thẳng lên cầu T để vào đường T thì gặp anh Lê Đức H1, sinh ngày 03/02/2008, trú tại thôn T, xã V, thành phố T điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Dibao màu đỏ chở anh Trịnh Hải L, sinh ngày 20/7/2008, trú cùng thôn ngồi sau; anh Mai Hoàng Đ2, sinh ngày 30/10/2008, trú cùng thôn điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Vinfast màu trắng đi từ hướng đường T lên cầu T sang phía phường H. Thấy vậy T nói với Đ1 và P: “Có quay lại vụt đội kia không”, ý của T là rủ Đ1 và P quay lại đuổi theo nhóm anh H1 để cướp tài sản. Đ1 và P đồng ý, sau đó cả ba cùng quay đầu xe lại và đuổi theo nhóm của anh H1, lúc này T rút kiếm ở sườn xe ra cầm ở tay trái, P ngồi sau xe Đ1 cũng rút kiếm ở sườn xe và cầm ở tay phải. Khi đuổi kịp nhóm anh H1 và đi song song với nhau thì T quay sang chửi nhóm của anh H1 “ĐM chúng mày xuống chân cầu bố mày bảo” sau đó T phóng xe lên trước đứng đợi ở phía chân cầu bên phía phường H còn Đ1 và P đi song song với xe của nhóm anh H1. P ngồi sau dơ kiếm lên chém về phía xe của anh H1 chở anh L nhưng không trúng ai, sau đó Đ1 và P đi xuống chân cầu chỗ T đứng. Bị các đối tượng đe dọa lúc này anh H1 sợ nên đưa chiếc điện thoại Iphone xsmax vỏ màu vàng, bên ngoài có ốp cao su màu đen hoa văn trắng của mình cho anh L ngồi sau cầm hộ rồi cùng anh Đ2 điều khiển xe quay đầu đi về hướng đường T để bỏ chạy. Thấy nhóm của anh H1 quay xe bỏ chạy thì nhóm của T điều khiển xe đuổi theo. Lúc này anh Đ2 điều khiển xe bỏ chạy về hướng đường T thì bị Đ1 chở P ngồi sau đuổi theo còn anh H1 chở anh L rẽ phải vào hướng Công viên T Rượu thuộc địa phận tổ A, phường B, thành phố T thì bị T điều khiển xe đuổi kịp và chặn đầu xe của anh H1 lại. Thấy T cầm theo kiếm thì anh H1 và anh L sợ nên cũng xuống xe, T ngồi trên xe của mình cầm kiếm dơ lên chỉ về phía mặt của anh H1 và anh L nói “có tiền không cho bố mày xin mấy chục”, nghe T nói vậy thì anh H1 và anh L bảo “em không có”, T tiếp tục dơ kiếm lên nói “mày móc túi ra xem nào”, anh H1 và anh L sợ bị T chém nên đã móc túi quần của mình ra cho T xem nhưng không có tiền. Lúc này Đ1 và P không đuổi được anh Đ2 nên quay lại chỗ T. Khi đến nơi thì Đ1 ngồi trên xe, P cầm kiếm đi xuống nhìn thấy anh L có cầm đồ vật trên tay nên hỏi “cái gì kia” thì anh L trả lời “Điện thoại”, nghe vậy P tiến lại và dùng tay trái giằng chiếc điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, vỏ màu vàng, ốp lưng bằng cao su, màu đen trị giá 3.220.000 đồng từ trên tay của anh L, anh L giữ chặt điện thoại không cho P giằng thì P dơ kiếm lên và nói “ĐM mày có bỏ ra không”, nghe P dọa vậy thì anh L bỏ điện thoại ra và rụt tay về. Sau đó P đi ra đưa chiếc điện thoại trên cho Đ1 cầm, P dắt kiếm vào sườn xe, lên xe máy điều khiển chở Đ1 ngồi sau bỏ chạy về hướng đường T. Lúc này T hỏi anh H1 “mày có tiền tài khoản không” thì anh H1 nói “em có để em bắn cho anh một trăm”, T gọi với Đ1 và P bảo “quay lại đưa điện thoại cho nó để nó bắn tiền” nhưng Đ1 và P không đồng ý và phóng xe bỏ đi luôn, thấy vậy T cũng lên xe đuổi theo Đ1 và P về hướng bến xe khách Thái Bình nhưng không đuổi kịp và lạc mất nhau. Sau đó T điện thoại cho P và bảo “tao về trước có gì mày về luôn nhé”. T điều khiển xe về xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình đợi. Trên đường đi T làm rơi mất thanh kiếm mà khi trước mình mang theo (rơi ở khu vực nào thì T không nhớ rõ). P điều khiển xe máy chở Đ1 về xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, thấy cửa hàng điện thoại Quỳnh Chi của anh Phạm Ngọc T3, sinh năm 1993, trú thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình làm chủ, P rẽ vào cửa nhà bên cạnh rồi bảo Đ1 ngồi ngoài còn P cầm chiếc điện thoại vào cửa hàng gặp anh T3, P nói dối anh T3 đây là điện thoại của P, P quên mật khẩu màn hình muốn phá mật khẩu, anh T3 hỏi mật khẩu tài khoản icloud của máy thì P nói không nhớ. Anh T3 nói vậy thì mất nhiều tiền, P bảo bán xác máy, thì anh T3 bảo được 300.000 đồng, P đồng ý. Anh T3 yêu cầu P viết cam kết về nguồn gốc của máy, ghi thông tin địa chỉ mới đồng ý mua. Sau khi P viết xong, anh T3 đồng ý mua và trả cho P 300.000 đồng. Bán điện thoại xong P lên xe chở Đ1 về quán nước ở khu vực cầu C thuộc địa phận xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình để uống nước, P gọi điện cho T đi ra uống nước cùng. Khi T ra thì P và Đ1 nói lại cho T biết chiếc điện thoại vừa cướp được là loại Iphone Xsmax, trên đường về P và Đ1 bán được 300.000 đồng, nghe Đ1 và P nói vậy thì T gật đầu đồng ý. Sau đó cả ba ngồi gọi nước uống hết 150.000 đồng, P lấy tiền vừa bán điện thoại ra trả rồi đi đổ xăng mỗi xe 70.000 đồng, còn lại 10.000 đồng P mua đồ ăn vặt. Sau đó cả nhóm giải tán ra về.
- Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “Tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm ngày 07/12/2024 là 3.220.000 đồng; trong đó: Trị giá 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng là 3.200.000 đồng; Trị giá 01 ốp điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax làm bằng cao su màu đen bên ngoài có in hoa văn màu trắng, đã qua sử dụng là 20.000 đồng”
Cáo trạng số 70/CT-VKSTPTB ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Thế Anh T, Vũ Thành Đ1, Vũ Trường P về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã nêu trong Cáo trạng; những người tham gia tố tụng khác giữ nguyên lời khai đã khai tại giai đoạn điều tra.
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc việc các bị cáo khi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi (bị cáo P chưa đủ 16 tuổi), nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, thiếu sự quan tâm, giáo dục đúng mức của gia đình, bị cáo T bị bệnh động kinh từ nhỏ và có giấy chứng nhận là người khuyết tật nặng để xử cho các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội “Cướp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d khoản 2 Điều 168, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên (áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo T). Đề nghị: xử phạt bị cáo Phạm Thế Anh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; bị cáo Vũ Thành Đ1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Vũ Trường P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng, phù hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra (bút lục từ số 326 đến số 416); Đơn trình báo và lời khai của bị hại là anh Lê Đức H1 (Bút lục số 259 đến số B); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác (bút lục số 269 đến số 278; bút lục số 279 đến số B). Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:
- Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 20/02/2025(bút lục số 40 đến số 49);
- Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T (bút lục số 167);
- Bản kết luận giám định số 1966/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 03 tập tin video lưu trữ trong chiếc đĩa CD và USB giám định. Hình ảnh, diễn biến liên quan đến vụ án được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo kết luận giám định” (bút lục số 179 đến số 191);
Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày ngày 07/12/2024, tại khu vực Công viên T Rượu thuộc địa phận tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Thế Anh T, Vũ Thành Đ1 và Vũ Trường P có hành vi dùng 02 thanh kiếm làm bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đe dọa đánh anh Lê Đức H1, sinh ngày 03/02/2008 và anh Trịnh Hải L, sinh ngày 20/7/2008, đều trú tại thôn T, xã V, thành phố T để chiếm đoạt 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone Xsmax vỏ màu vàng có ốp cao su màu đen hoa văn trắng trị giá 3.220.000 đồng của anh Lê Đức H1.
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Điều 168. Tội cướp tài sản
- Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
a) ....;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
...
Như vậy việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi sử dụng kiếm là hung khí nguy hiểm, đe doạ để chiếm đoạt tài sản của bị hại mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền nhân thân và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nông nổi, muốn thể hiện cái tôi của bản thân, chứng tỏ bản lĩnh trong xã hội nên đã nhất thời phạm tội, do đó các bị cáo phải chịu mức án nhất định, tương xứng với hành vi các bị cáo đã gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó xác định bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê hai bị cáo Đ1 và P thực hiện hành vi phạm tội, chủ động mang theo hung khí và trực tiếp đe doạ nhằm cướp tài sản của bị hại, sau khi chiếm đoạt được tài sản đã cùng các bị cáo còn lại tiêu sài chung nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Các bị cáo Vũ Thành Đ1, Vũ Trường P tiếp nhận ý chí của bị cáo T, trực tiếp tham gia đe doạ chiếm đoạt tài sản của bị hại, cùng nhau tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có lấy tiền tiêu xài chung nên có vai trò tương đối ngang nhau và xếp sau vai trò của bị cáo T.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo T có việc rủ rê các bị cáo Đ1, P thực hiện hành vi phạm tội khi các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “tự nguyện khắc phục hậu quả” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội có bị bệnh động kinh, mặc dù không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều khiểu hành vi nhưng bị cáo có giấy xác nhận là người khuyết tật nặng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo còn được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Qua phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, độ tuổi và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, tuy nhiên do các bị cáo T, Đ1 chưa đủ 18 tuổi, bị cáo P chưa đủ 16 tuổi nên cần áp dụng các nguyên tắc có lợi đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Luật tư pháp người chưa thành niên và Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử mức hình phạt thấp hơn khung hình phạt mà điều luật quy định tương ứng với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Xét thấy các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Đức H1 đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax vỏ màu vàng và chiếc ốp cao su màu đen có in hoa văn trắng bên ngoài, anh H1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh H1 bất cứ khoản tiền gì khác, nên không đặt ra giải quyết.
Các bị cáo thông qua gia đình đã khắc phục, trả lại cho anh Phạm Ngọc T3 số tiền 300.000 đồng là tiền mà anh T3 đã bỏ ra để mua chiếc điện thoại do các bị cáo cướp được. Anh T3 không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên cần ghi nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Victoria, màu sơn xanh, biển số đăng ký 17AA - 733.76, tài liệu điều tra xác định là xe của bà Vũ Thị L1 là bà ngoại của bị cáo T. Ngày 07/12/2024 bà L1 không biết T lấy chiếc xe trên đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà L1. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Victoria, màu sơn xanh, biển số đăng ký 17AA - 433.43, tài liệu điều tra xác định là xe của anh Lã Quý D. Ngày 07/12/2024, Đ1 mượn của anh D nhưng anh D không biết Đ1 sử dụng chiếc xe trên đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh D.
Đối với thanh kiếm làm bằng kim loại sáng màu, dài khoảng 86cm, đã qua sử dụng mà Phạm Thế Anh T mang theo để thực hiện hành vi cướp tài sản, trên đường về T đã làm rơi, rơi ở đoạn nào thì T không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm tuy nhiên không tìm được.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen đã qua sử dụng thu của bị cáo Vũ Trường P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S đã qua sử dụng thu của bị cáo Phạm Thế Anh T, kết quả điều tra xác định được các bị cáo không sử dụng những chiếc điện thoại này vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 áo khoác có mũ màu đen, có họa tiết bên hai cánh tay và sau lưng áo, lưng áo có chữa CHRISTIAN DIOR (đã qua sử dụng) và 01 quần ống dài màu đen (đã qua sử dụng) thu của Vũ Trường P; 01 áo khoác màu đen có mũ màu xám có chữ DSQUARED2 (đã qua sử dụng) thu được của Phạm Thế Anh T là trang phục các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có nhu cầu xin trả lại, giá trị sử dụng không đáng kể nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 kiếm bằng kim loại màu xám, có cán dài 30cm cuốn băng dính màu đen, lưỡi dài 60cm, mũi kiếm vát nhọn (đã qua sử dụng) thu của Vũ Trường P là hung khí, phương tiện bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Bị cáo Vũ Thành Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Thế Anh T là người khuyết tật, bị cáo Vũ Trường P khi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế Anh T, Vũ Thành Đ1, Vũ Trường P phạm tội “Cướp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Phạm Thế Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/12/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt: Bị cáo Vũ Thành Đ1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/12/2024
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 3 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Vũ Trường P 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/12/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo Phạm Thế Anh T, Vũ Thành Đ1 và Vũ Trường P (thông qua bố mẹ đẻ là người đại diện) đã khắc phục trả cho anh Phạm Ngọc T3 số tiền 300.000 đồng. Ghi nhận việc những người đại diện hợp pháp của các bị cáo không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bỏ ra khắc phục thay cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại bị cáo Vũ Trường P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen đã qua sử dụng; trả lại bị cáo Phạm Thế Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác có mũ màu đen, có họa tiết bên hai cánh tay và sau lưng áo, lưng áo có chữa CHRISTIAN DIOR (đã qua sử dụng) và 01 quần ống dài màu đen (đã qua sử dụng) thu của bị cáo Vũ Trường P; 01 áo khoác màu đen có mũ màu xám có chữ DSQUARED2 (đã qua sử dụng) thu được của bị cáo Phạm Thế Anh T; 01 kiếm bằng kim loại màu xám, có cán dài 30cm cuốn băng dính màu đen, lưỡi dài 60cm, mũi kiếm vát nhọn (đã qua sử dụng) thu của bị cáo Vũ Trường P.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 50 phút ngày 22/5/2025 tại trụ sở Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình giữa Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Thành Đ1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thế A1 T và bị cáo Vũ Trường P.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về cướp tài sản (robbery)
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Robbery)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
