Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ NGUYỄN KỲ V, sinh ngày 16/11/1998 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: A W ừu, phường D, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị Tường V1 (SN: 1964); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 07/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V: Ông Lê Bảo  – Luật sư thuộc Công ty L; Địa chỉ: số C đường C, phường C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

* Bị hại: Công ty TNHH Đ; địa chỉ: số A N, phường T, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Lê T1; chức vụ: Giám đốc; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 2005; nơi cư trú: 1 T, phường C, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tro trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 02/2025, Lê Nguyễn Kỳ V đến thành phố Đà Nẵng để đi du lịch. Do có nhu cầu sử dụng máy ảnh để chụp hình nên ngày 23/02/2025, Lê Nguyễn Kỳ V đến Công ty TNHH Đ ở địa chỉ số A đường N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (nay là phường T, thành phố Đà Nẵng) do ông Nguyễn Lê T1 làm chủ, để thuê máy ảnh và ống kính máy ảnh. Tại đây, V làm hợp đồng thuê 01 chiếc máy ảnh nhãn hiệu Sony A73 mark III và 01 ống kính nhãn hiệu Sony 70-200 F2.8 GM trong thời hạn hai ngày. Ông T1 kiểm tra căn cước công dân của V xong thì hai bên ký hợp đồng cho thuê, V chuyển khoản cho ông T1 3.000.000 đồng tiền cọc, ông T1 giao máy ảnh và ống kính cho V thuê rồi Vĩ rời đi.

Chiều ngày 24/02/2025, V quay lại Công ty TNHH Đ và thuê thêm 01 ống kính nhãn hiệu Sony 85 GM F1.4 với thời hạn thuê là một ngày. Vĩ chuyển thêm cho ông T1 1.500.000 đồng tiền cọc. Hai bên thống nhất không lập hợp đồng mới mà ghi ống kính V thuê thêm vào hợp đồng đã lập ngày 23/02/2025, khi hết thời hạn thuê thì V có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty TNHH Đ toàn bộ tài sản gồm 01 máy ảnh và 02 ống kính đã thuê.

Vĩ đã chuyển tổng cộng 4.500.000 đồng cho Công ty TNHH Đ.

Sau khi hết thời hạn thuê máy, ông T1 nhắn tin cho V qua ứng dụng M và điện thoại cho V qua số điện thoại 0796.332.xxx, 0782.581.611 yêu cầu Vĩ trả lại các thiết bị trên. Lúc này, V yêu cầu gia hạn thời gian thuê nhưng ông T1 không đồng ý và cho V thêm 03 ngày để sắp xếp trả lại.

Trong thời gian thuê tài sản để sử dụng, V thích và muốn sở hữu tài sản trên nên V không trả tài sản cho ông T1 mà mang tài sản trên ra thành phố Hà Nội để sử dụng. Trong thời gian ở Hà Nội, V không có tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và bán những tài sản trên cho một người tại thành phố Hà Nội (không rõ lai lịch) với giá 40.000.000 đồng rồi sử dụng tiêu xài hết số tiền nêu trên.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T (cũ) xác định, các tài sản mà Lê Nguyễn Kỳ V chiếm đoạt của Công ty TNHH Đ có giá trị là 65.600.000 đồng. Trong đó, máy ảnh Sony A7 Mark III trị giá: 24.000.000 đồng; ống kính Sony 70-200 trị giá: 26.200.000 đồng; ống kính Sony 85 trị giá: 15.400.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ: 01 USB có 02 hình ảnh và 02 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty TNHH Đ tại địa chỉ số A đường N, phường T, thành phố Đà Nẵng, ghi lại toàn bộ quá trình Lê Nguyễn Kỳ V đến thuê các tài sản nêu trên tại công ty.

Các tài sản bị chiếm đoạt đến nay không thu hồi được. Đại diện bị hại là ông Nguyễn Lê T1 đã nhận 65.600.000 đồng do V tác động gia đình bồi thường nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Nguyễn Kỳ V.

* Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 05/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt một hình phạt nhẹ để bị cáo có điều kiện làm lại cuộc đời, trở thành một công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; luận tội đối với bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V mức án từ 15 (mười lăm) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.

Luật sư Lê Bảo  bào chữa cho bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ hành vi và hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, lao động, học tập trở thành công dân tốt.

Bị hại Công ty TNHH Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng tiếp tục có văn bản đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo V một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng máy ảnh để chụp hình nên từ ngày 23/02/2025 đến ngày 24/02/2025, bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V đã 02 lần đến Công ty TNHH Đ (ở địa chỉ số A đường N, phường T, thành phố Đà Nẵng - do ông Nguyễn Lê T1 là chủ sở hữu) để thuê 01 chiếc máy ảnh nhãn hiệu Sony A73 mark III, 01 ống kính nhãn hiệu Sony 70-200 F2.8 GM và 01 ống kính nhãn hiệu Sony 85 GM F1.4, hẹn đến ngày 25/02/2025 sẽ trả toàn bộ tài sản nói trên. Đến hạn trả máy, V yêu cầu gia hạn thời gian thuê nhưng ông T1 không đồng ý và cho V thêm 03 ngày để sắp xếp trả lại nhưng V không trả mà mang tài sản trên ra thành phố Hà Nội để sử dụng, sau đó bán lại cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản Lê Nguyễn Kỳ V đã chiếm đoạt là 65.600.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Quyền sở hữu tài sản là quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận trong Hiến pháp và được pháp luật hình sự bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Sau khi đã hết thời hạn thuê tài sản, lẽ ra bị cáo phải trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nhưng bị cáo lại mang tài sản đến thành phố Hà Nội tiếp tục sử dụng, cắt đứt liên lạc với chủ sỡ hữu tài sản, cố tình không trả lại, sau đó còn tự ý mang tài sản đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, đối với bị cáo cần xử phạt một hình phạt tương xứng, để răn đe, cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và được đại diện bị hại nhiều lần xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng.

[5] Về quyết định hình phạt:

Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội; hoàn cảnh gia đình có khó khăn, cha mất sớm nên bản thân bị cáo thiếu sự chăm sóc, giáo dục đầy đủ của cả cha lẫn mẹ; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra đã được khắc phục toàn bộ; bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố nhưng vẫn trong khung hình phạt liền kề, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải.

[5.1] Đối với quan điểm bào chữa của Luật sư Lê Bảo  đề nghị áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo V được hưởng án treo, trên cơ sở các nội dung đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên không chấp nhận luận cứ này của Luật sư.

[5.2] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo V không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB có 02 hình ảnh và 02 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty TNHH Đ, ghi lại toàn bộ quá trình Lê Nguyễn Kỳ V đến thuê các tài sản nêu trên tại công ty là các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được, trước khi mở phiên tòa, đại diện bị hại là anh Nguyễn Lê T1 xác nhận đã nhận số tiền 65.600.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện của các bên và không đề cập giải quyết.

[9] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Quá trình điều tra, Lê Nguyễn Kỳ V khai nhận bán máy ảnh và ống kính máy ảnh cho một người tại thành phố Hà Nội nhưng bị cáo không biết nhân thân lai lịch của họ, Cơ quan điều tra xem xét xử lý sau là phù hợp, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 07/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 USB có 02 hình ảnh và 02 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty TNHH Đ;

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Nguyễn Kỳ V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND khu vực 3;

- Thi hành án dân sự TPĐN;

- VKSND TP. Đà Nẵng;

- TAND TP. Đà Nẵng;

- Cơ quan CSĐT- Công an TP Đà Nẵng;

- Cơ quan thi hành án hình sự Công an TP Đà Nẵng;

- Trại tạm giam Công an TP. Đà Nẵng;

- Phân trại tạm giam Cẩm Lệ;

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Kỳ Vỹ phạm tội 'Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger