|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày 04-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tin – Giáo viên nghỉ hưu trú tại phường Nham Biền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi – Cán bộ hưu trú tại phường Nham Biền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đăng D, sinh ngày 06/10/2008 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; con ông Phạm Đăng D1 và con bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
* Đại diện hợp pháp của bị cáo:
- - Ông Phạm Đăng D1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- - Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Đăng D1, bà Nguyễn Thị T1: Ông Phạm Đăng D2, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Văn H – Văn phòng luật sư Kim Vĩnh A, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt)
Địa chỉ: Số D đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt)
Địa chỉ: Số F đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị hại: Đinh Văn Xuân Đ, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản C, xã S, huyện V, tỉnh Sơn La.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Giáp Văn H1, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- - Ông Phạm Đăng D2, sinh năm 1965 (có mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
* Đại diện cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi lao động, sinh hoạt:
Ông Nguyễn Như A1 – Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đăng D sinh ngày 06/10/2008, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang làm phụ xây dựng tại phường S, thành phố B. Ngày 09/11/2024 D nghỉ làm và đi bộ về quê, khoảng 09 giờ cùng ngày, D đi qua nhà trọ của ông Nguyễn Khắc T2 ở tổ dân phố S, phường S, thành phố B thì nhìn thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc, biển số 26P1-138.39 dựng ở góc tường trong sân phòng trọ. Chiếc xe này là của anh Đinh Văn Xuân Đ, sinh năm 2005, trú tại Bản C, xã S, huyện V, tỉnh Sơn La để tại đó. D nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên để đem bán lấy tiền chi tiêu nên dùng tay trái thò qua khe cánh cổng bên trái và rút chốt ngang mở cánh cổng rồi đi đến dắt xe lùi ra ngoài cổng. D dắt bộ ra khu vực khuôn viên cạnh sân bóng cách đó khoảng 300m rồi dừng lại, dùng tay rút dây điện và đấu hai đầu dây điện vào nhau để xe có điện. Sau đó, D đề nổ xe máy rồi điều khiển xe đi về ngủ ở chùa thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 09 giờ ngày hôm sau, D điều khiển xe mô tô đến cửa hàng của anh Giáp Văn H1, sinh năm 2000 ở thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang vay 6.000.000 đồng và để chiếc xe lại làm tin. D nói là xe của chị gái D mua trả góp. Theo D khai sử dụng để chơi game và chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 13/11/2024, anh Đinh Văn Xuân Đ có đơn trình báo. Cùng ngày, Phạm Đăng D đầu thú và và khai nhận đã trộm cắp chiếc xe máy biển số 26P1-138.39. Anh Giáp Văn H1 giao nộp cho Công an phường S chiếc xe mô tô biển số 26P1-138.39.
Kết luận định giá tài sản số 305/KL-HĐ ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc, biển số 26P1-138.39, số máy JA39E3179600, số khung RLHJA3921PY540928, sản xuất năm 2023, đã qua sử dụng trị giá ngày 09/11/2024 là 14.500.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho Phạm Đăng D xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả, D xác định đúng vị trí nơi trộm cắp, nơi đấu điện chiếc xe máy như đã khai và thực hiện động tác thò tay trái qua ô thoáng cánh cửa bên trái kéo chốt ngang cửa cổng và mở cánh cổng bên phải, đi vào sân dắt lùi xe mô tô ra ngoài đường như đã khai.
Cơ quan điều tra đã cho anh Giáp Văn H1 nhận dạng ảnh của Phạm Đăng D. Kết quả, anh H1 nhận đúng ảnh và xác định D là người vay tiền và để lại chiếc xe máy biển số 26P1-138.39 ngày 10/11/2024.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh liên quan vụ việc.
Kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “CONG_11092024.mp4”, dung lượng 4,74MB, thời lượng 00 phút 34 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 04 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã cho Phạm Đăng D quan sát file video nêu trên, D xác định hình ảnh người mặc áo khoác dài tay màu đen, quần đùi màu đen, tóc nhuộm màu vàng, dắt xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc chính là D khi thực hiện hành vi trộm cắp.
Từ những nội dung trên, Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phạm Đăng D về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.
Bị hại là anh Đinh Văn Xuân Đ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Giáp Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công khai lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện hợp pháp (theo ủy quyền) của bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đăng D2 trình bày: Số tiền 6.000.000 đồng mà bị cáo sử dụng để bồi thường cho anh Giáp Văn H1 là tiền của ông, do bị cáo chưa có công ăn việc làm, chưa có thu nhập, tác động xin được ông giúp đỡ nên ông tự nguyện sử dụng tiền của mình để bồi thường, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo. Ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho ông số tiền trên. Do bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi còn trẻ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Đăng D từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại anh Đinh Văn Xuân Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc biển số 26P1-138.39, số máy JA39E3179600, số khung RLHJA3921PY540928.
- * Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tại phần tranh luận:
- *Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
- - Nhất trí với tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo.
- - Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình đáng thương, chịu nhiều thiệt thòi vì bố mẹ ly hôn, không có ai quan tâm chăm sóc, giáo dục bị cáo. Bị cáo còn ít tuổi nhưng đã phải tự mưu sinh, làm phụ hồ để nuôi bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được thu hồi, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (anh Giáp Văn H1). Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, trong suốt quá trình điều tra, xét xử, bị cáo không để xảy ra vi phạm gì, hiện nay đã chịu khó làm ăn (phụ việc giúp ông nội). Từ những ý kiến trên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 9 tháng đến 11 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- *Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo trình bày:
- - Nhất trí với những ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo đã trình bày.
- - Nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo.
- - Bị cáo phạm tội do chưa nhận thức đầy đủ, thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo có nhân thân tốt và là vị thành niên. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức 06 tháng cải tạo không giam giữ.
- *Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, tranh luận:
- Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo về việc cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên các ý kiến và mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo.
- *Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo: Nhất trí với ý kiến của luật sư bào chữa và trợ giúp viên pháp lý phát biểu. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì tranh luận thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; đại diện cơ quan, tổ chức nơi bị cáo sinh hoạt (Đoàn thanh niên CSHCM) tại phiên tòa:
Bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng những người này vẫn vắng mặt. Đại diện Đoàn TNCSHCM xã N đã có văn bản nêu ý kiến và đơn đề nghị vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc giải quyết vụ án, quá trình điều tra những người này đã có lời khai trong hồ sơ. Căn cứ Điều 292, Điều 293 và Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung.
[3] Căn cứ xác định bị cáo phạm tội:
Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 09/11/2024, Phạm Đăng D lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave biển số 26P1-138.39 của anh Đinh Văn X Đỉnh để tại khu trọ ở tổ dân phố S, phường S, thành phố B sau đó D đem xe đi cầm cố được 6.000.000 đồng rồi sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận chiếc xe mô tô Honda Wave mà bị cáo trộm cắp trị giá 14.500.000 đồng.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định hình ảnh, kết luận định giá tài sản, vật chứng bị thu giữ cùng các tài liệu và chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đã đủ căn cứ xác định hành vi của Phạm Đăng D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt như đề nghị là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải có một hình phạt tương xứng nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo thì thấy:
Tại khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định...”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Phạm Đăng D là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật (căn cứ văn bản xác nhận của Đoàn Thanh niên CSHCM xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang). Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Mặt khác, quan điểm của Nhà nước ta về việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo) và Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xét thấy bị cáo Phạm Đăng D có đủ điều kiện được hưởng án treo, chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Xét thấy: Bị cáo còn ít tuổi nhưng không tích cực lao động, giúp đỡ gia đình, hiện nay không còn đi học nữa (đi phụ việc với ông nội) nên căn cứ quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử bị cáo được hưởng hình phạt án treo là đã có sự xét xét và giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của luật sư bào chữa và Trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo đã đề nghị.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi và hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác, do vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 26P1-138.39 là tài sản thuộc sở hữu của anh Đinh Văn Xuân Đ nên cần trả lại cho anh Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 47; Điều 65; Điều 91; Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119, Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024; điểm b khoản 3 Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125; Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 và Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Phạm Đăng D 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, phải chịu thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/4/2025. Giao Phạm Đăng D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Trường hợp Phạm Đăng D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- * Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Phạm Đăng D.
- Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho anh Đinh Văn Xuân Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - bạc, biển số 26P1-138.39, số máy JA39E3179600, số khung RLHJA3921PY540928, sản xuất năm 2023, xe đã qua sử dụng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đăng D chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sư sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 09/11/2024, Phạm Đăng Duy lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave biển số 26P1-138.39 của anh Đinh Văn Xuân Đỉnh để tại khu trọ ở tổ dân phố Song Khê 1, phường Song Khê, thành phố Bắc Giang sau đó Duy đem xe đi cầm cố được 6.000.000 đồng rồi sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang đã kết luận chiếc xe mô tô Honda Wave mà bị cáo trộm cắp trị giá 14.500.000 đồng.
