Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-PT

Ngày 28/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh và bà Trần Thị Mỹ Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Hữu P (tên gọi khác: không) - sinh ngày 10 tháng 11 năm 1995, tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Hữu V và bà Võ Thị T; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị có bị tạm giữ, tạm giam từ 25/10/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không có kháng nghị và không có liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tâp đến tham gia phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào các ngày 14/4/2024 và ngày 31/8/2024, Đặng Hữu P sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, Biển kiểm soát 37M1-6405 (Xe mượn của chú của P1 là ông Đặng Hữu T1) đã thực hiện 2 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố V, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/4/2024 Đặng Hữu P điều khiển xe mô tô đi chơi từ thành phố V về nhà tại xã N, huyện N. Khi đi đến khu vực đường P, xã N, thành phố V, trên đường P phát hiện Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2005. Địa chỉ xóm K, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An đang điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu xanh, biển kiểm soát MĐ1-190.51, trên tay trái đang cầm một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64 GB, màu đen để nghe điện thoại. Lúc này P nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của chị N. P điều khiển xe mô tô từ sau áp sát từ phía sau bên trái xe máy điện của chị N và dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị N rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của chị N, P đưa đến cửa hàng điện thoại trên địa bàn huyện N (P không nhớ rõ địa chỉ) để bán, nhưng do điện thoại có mật khẩu nên không bán được, trên đường đi về nhà P đã làm rơi mất điện thoại nêu trên.

Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 31/8/2024 Đặng Hữu P điều khiển xe mô tô nói trên đi làm từ thành phố V về nhà, khi đến khu vực Công ty S trên đường T, thuộc xóm P, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, P phát hiện chị Nguyễn Thị B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, Biển kiểm soát 37 AG-029.93 tay trái đang cầm điện thoại di động OPPO A16K32G, màu xanh và nghe điện thoại. P nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của chị B. P điều khiển xe mô tô từ sau áp sát từ phía sau bên trái xe mô tô của chị B và dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị B rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của chị B, P lên Youtube xem hướng dẫn và bẻ được khóa điện thoại. Sau đó P đưa điện thoại của chị B đến Cửa hàng C tại thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An bán cho anh Trần Đức D với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khi bán P nói với anh D điện thoại này là của anh P, anh D đã bán lại chiếc điện thoại này cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ) là khách hàng qua đường với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng).

Ngày 25/10/2024 nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật Đặng Hữu P đã xin đầu thú.

Tại Kết luận định giá tài sản số 212/KL-ĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V quyết định:

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64 GB, màu đen, đã qua sử dụng. tình trạng chiếc điện thoại sử dụng bình thường hiện chưa thu hồi được, có giá trị tại thời điểm 14/04/2024 là 4.700.000 đ (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

01 (một) điện thoại di động OPPO A16K32G, màu xanh, ốp màu tím đã qua sử dụng. Tình trạng chiếc điện thoại di động sử dụng bình thường, hiện chưa thu hồi được, có giá trị tại thời điểm 31/8/2024 là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-TPV ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nahan dân thành phố V, tỉnh Nghệ An đã truy tố Đặng Hữu P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm đ khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Hữu P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Hữu P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/10/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 03/02/2025 bị cáo Đặng Hữu P làm đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo Đặng Hữu P, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Áp dụng điểm d khoản 1 điều 171; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Hữu P không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo bị cáo Đặng Hữu P được làm trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Hữu P thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong vụ án trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị hại; người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội. Có đủ căn cứ xác định:

Trong các ngày 14/4/2025 và 31/8/2025 tại khu vực xóm P, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Đặng Hữu P sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu xám đen, Biển kiểm soát 37M1-6405, rồi tiếp cận, áp sát người đi đường để cướp giật 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu đen trị giá 4.700.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim N và 01 (một) điện thoại di động OPPO A16K 32 GB màu xanh của chị Nguyễn Thị B trị giá 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng).

Hành vi của Đặng Hữu P bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu P thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cấp sơ thẩm đã đánh giá Bị cáo thực hiện hai hành vi cướp giật tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra gia đình bị cáo có công với cách mạng ông nội được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 3 năm 6 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Tuy nhiên thấy rằng mặc dù bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 3 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 của điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt nên cần đánh giá, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo mức đầu khung của hình phạt cũng đủ nghiêm nên cần chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu P, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hữu P 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/10/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Hữu P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND thành phố Vinh;
  • - VKSND thành phố Vinh;
  • - Công an tỉnh Nghệ AN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Công an xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa hình sự;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 73/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chảo A L phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy, cấp, quý, hiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger