Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-PT

Ngày: 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung

Bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 67/2025/TLPT-HS ngày 28/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Đức L, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/5/1971; nơi thường trú: Tổ dân phố Lê Hồng P, thị trấn C, huyện L (nay là phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1938 (đã chết) và con bà Giáp Thị P1, sinh năm 1944; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1978; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999,; anh, chị em ruột: Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba;

- Tiền án: Tại Bản án số 39/2018/HSST ngày 24/5/2018 của TAND huyện Lục Ngạn xử phạt Nguyễn Đức L 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 10/5/2022, L chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích.

- Nhân thân:

  • + Bản án số 111/2012/HSST ngày 18/12/2012 của TAND huyện Lục Ngạn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2014;
  • + Quyết định số 22/QĐ-XPHC ngày 13/4/2000 của Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi đánh bạc, mức phạt 500.000 đồng. L đã chấp hành xong quyết định trên.
  • + Quyết định số 113/QĐ-XPHC ngày 14/7/2008 của Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.000.000 đồng. L đã chấp hành xong quyết định trên.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày 14/12/2024, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp cùng Công an thị trấn Chũ tuần tra, kiểm soát đến khu vực nghĩa trang thị trấn C phát hiện Nguyễn Đức L, sinh năm 1971 trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố L, phường C, thị xã C) đang ngồi trên xe mô tô có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành áp sát kiểm tra thì L dùng tay lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người 01 túi nilon bên trong chứa 20 viên nén màu hồng đỏ và 01 túi nilon bên trong chứa 30 viên nén màu hồng đỏ ném xuống đất. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, thu giữ và niêm phong các tang vật gồm:

  • - Thu giữ trong túi áo khoác bên trái L đang mặc 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt trắng bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng và màu hồng đỏ nghi là ma túy; Thu giữ trong túi áo khoác bên phải bên L đang mặc 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt trắng bạc bên trong chứa mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”;
  • - Thu giữ tại nền đất cách vị trí Nguyễn Đức L đang đứng cách 03 mét có 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa bên trong chứa 20 (hai mươi) viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa bên trong chứa 30 (ba mươi) viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT2”;

Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ các tài sản thu giữ của L gồm: số tiền 500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 98E1-230.37 và 01 điện thoại di động Redmi màu xanh (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT L”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức L nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số vật chứng thu giữ nghi là ma túy được niêm phong trong bì ký hiệu “QT1” và “QT2”, kết quả:

Bản kết luận giám định số 2710/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT1”, được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng và màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma túy, tổng khối lượng 0,039 gam, loại Heroine (H) và M; Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma túy, tổng khối lượng 0,035 gam, loại Methamphetamine.
  • - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT2”, được niêm phong gửi giám định: 20 (hai mươi) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, tổng khối lượng 1,895 gam, loại Methamphetamine; 30 (ba mươi) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, tổng khối lượng 2,863 gam, loại Methamphetamine”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thu mẫu tóc của Nguyễn Đức L và trưng cầu giám định ADN trên vật chứng đã thu giữ (vỏ bao gói hoàn lại của QT2), kết quả:

Bản kết luận giám định số HT703.24/PY-XNSH ngày 17/12/2024 của V kết luận: “Dấu vết trên 02 túi nilon màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu “vỏ bao gói hoàn lại của QT2” gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trung khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Nguyễn Đức L”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức L thành khẩn khai nhận: L là đối tượng nghiện ma túy, đã có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2024, Nguyễn Đức L đang ở khu vực chợ K1, xã P, huyện L (nay là phường P, thị xã C), tỉnh Bắc Giang để lái xe ôm chở khách thì gặp một người đàn ông không quen biết. L hỏi mua của người đàn ông này 600.000 đồng ma tuý để về sử dụng dần và được người đàn ông đưa cho 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng và màu hồng đỏ, 01 gói giấy bạc bên trong chứa mảnh viên nén màu hồng đỏ, 01 túi nilon bên trong chứa 20 viên nén màu hồng đỏ và 01 túi nilon bên trong chứa 30 viên nén màu hồng đỏ. Sau khi mua được ma túy, L cất vào trong túi áo khoác đang mặc của L rồi đi về nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 98E1-230.37, mang theo số ma túy mua được trước đó đến khu vực nghĩa trang N thị trấn C thuộc địa phận tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L (nay là phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện L phát hiện, kiểm tra. Do lo sợ nên L lấy 02 túi ma tuý từ trong túi áo vất xuống đất và bị bắt quả tang như nêu trên.

VỚI NỘI DUNG TRÊN, BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM SỐ 12/2025/HS-ST NGÀY 18/3/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG ĐÃ XÉT XỬ VÀ QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/12/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/3/2025, bị cáo Nguyễn Đức L có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Đức L trình bày: Bị cáo do thiếu hiểu biết pháp luật nên đã vi phạm, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai gì. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, xác định Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội, không oan sai.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L Giữ nguyên án sơ thẩm xử đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Phần tranh luận, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Đức L: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo: Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm thấy đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 14/12/2024, tại khu vực nghĩa trang thị trấn C thuộc tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L (nay là phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,039 gam ma tuý loại heroine và methamphetamine và 4,793 gam ma túy loại methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy heroine và methamphetamine là 4,832 gam.

[3]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất m tuy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã Chũ xét xử bị cáo Nguyễn Đức L theo tội danh và áp dụng điều luật, hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội và ngày càng có diễn biến phức tạp, nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình, suy thoái đạo đức xã hội. Do đó cần phải xử lý về hình sự đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[5]. Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L thì thấy:

[6]. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo đã xử phạt bị cáo 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và không nặng đối với bị cáo.

[9]. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với cấp sơ thẩm nên HĐXX xét thấy cần không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật.

[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[11] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/12/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS cấp sơ thẩm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 73/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức L phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger