Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73 /2025/HS-PT

Ngày 13 tháng 6 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng và ông Trương Văn Hai

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2025/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng K

sinh ngày 15 tháng 12 năm 2006; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn T và bà ĐặngThị Mai Đ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 03/8/2023, bị Công an xã K xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Chợ M (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo K: Ông Lương Minh H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại:

  • - Lê Văn K1, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • - Châu Thị C, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp P, xã K,huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • - Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
  • - Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Người làm chứng: ông/bà: Lê Thị Kim C1, Hà Hữu P, Phạm Thị T2, Lê Thị Cẩm T3, Giao Thị Thu V, Nguyễn Thị Thúy A (vắng mặt).

Trong vụ án còn bị cáo khác nhưng không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/6/2024, Nguyễn Hoàng Quốc B đi bộ đến nhà Nguyễn Hoàng K, ở ấp H, xã K, huyện C để chơi. Tại đây, Hoàng K rủ B đi tìm tài sản lấy trộm, thì B đồng ý. Hoàng K điều khiển xe mô tô biển số 67L7-0800 của Nguyễn Văn T (cha ruột K) chở B đến khu vực ấp L, xã L, thấy xe đẩy bằng sắt màu xanh của Lê Văn K1 để cặp lề đường, không khóa, không người trông giữ, nên Hoàng K dừng xe, kêu B xuống lấy trộm xe đẩy, rồi ngồi sau kéo xe đẩy cho Hoàng K điều khiển xe mô tô chở B về nhà Hoàng K. Khi này, Hoàng K đến kêu Nguyễn Văn Đ1 (mua bán phế liệu) ngụ ấp H, xã K bán xe đẩy, thì Đ1 nói “Chỉ mua phế liệu, không mua xe đẩy ăn trộm” nên Hoàng K về nói cho B biết, Hoàng K mượn máy cắt sắt của Nguyễn Văn B1, cắt xe đẩy ra nhiều đoạn rồi đến kêu Đại bán, thì Đ1 kêu Nguyễn Thanh T1 (vợ của Đ1) đến nhà Hoàng K mua sắt vụn, T1 đến thỏa thuận với Hoàng K mua giá 6.000 đồng/kg sắt, tổng cộng được 480.000 đồng, T1 đưa Hoàng K 500.000 đồng (trong đó, Hoàng K xin T1 20.000 đồng). Cùng lúc Nguyễn K đến chơi, thì Hoàng K đưa Nguyễn K 300.000 đồng kêu mua ma túy để sử dụng, còn 200.000 đồng mua bánh và thẻ game rồi cùng nhau sử dụng hết.

Riêng T1, sau khi mua sắt vụn của Hoàng K, T1 đem đến vựa phế liệu Kim C1 ở ấp H, xã K gặp Lê Thị Cẩm T3 bán được 573.000 đồng. Ngày 27/6/2024, K1 đi tìm xe đẩy bị mất trộm, thì gặp 02 bánh xe đẩy ở hông nhà của T1 nên K1 mua lại từ T1 với giá 400.000 đồng. Sau đó, K1 đến Công an xã L trình báo.

Ngoài ra, khoảng 01 giờ ngày 07/7/2024, Hoàng K điều khiển xe mô tô biển số 67L7-0800 đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến vựa mua bán rau “Thúy Sơn” ở ấp H, xã K, H đi vào vựa rau quan sát thấy có 02 cây cân nhãn hiệu Nhơn Hòa màu xanh (loại cân 100kg) của Châu Thị C (mua bán rau), nên Hoàng K lén lút lấy trộm 02 cây cân, đem bán cho Đ1 với giá 250.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Đến 08 giờ cùng ngày, Châu Thị C phát hiện tài sản bị mất trộm, nên trình báo Công an xã K. Trước đó, vào ngày 03/8/2023, Hoàng K bị Công an xã K xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67L7-0800, nhãn hiệu HONDA, đã trả cho Nguyễn Văn T; 02 cái cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg, đã trả cho Châu Thị Cẩm .

Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG.TTHS ngày 13/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: 02 cái cân đồng hồ hiệu N, loại 100kg, có tổng trị giá 800.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG.TTHS ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: 01 chiếc xe đẩy bằng sắt, cao 0,65m, ngang 1,8m, dài 2,8m, trị giá 4.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Hoàng Quốc B; bị hại Lê Văn K1, Châu Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn T; người làm chứng Lê Thị Kim C1, Hà Hữu P, Phạm Thị T2, Lê Thị Cẩm T3, Giao Thị Thu V, Nguyễn Thị Thúy A khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Tại Cáo trạng số 80/CT-VKSCĐ-HS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo Trần Thanh V1 và Đoàn Bảo C2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Đốc đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 08 (tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2025).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 585, 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: Các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Hoàng Quốc B có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Văn K1 số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, bị cáo Nguyễn Hoàng K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 01- 02 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K từ 10 – 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/11/2024. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng K làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung:

Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hoàng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản vụ việc, và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/6/2024, bị cáo K cùng với bị cáo B lấy trộm xe đẩy bằng sắt của anh Lê Văn K1, các bị cáo đã cắt xe đẩy ra thành nhiều đoạn và bán được 480.000đ, lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài. Bị cáo K còn khai ra, trước đó bị cáo còn lấy trộm 02 cây cân, đem bán cho Đ1 với giá 250.000 đồng, tiêu xài cá nhân, trị giá 02 cân 800.000đ. Ngoài ra, ngày 03/8/2023, Hoàng K bị Công an xã K xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.

Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 137 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

[3.1] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng K, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã từng bị xử về tội trộm cắp tài sản, xử phạt hình chính 1.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo; mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo K đã gây ra, cấp sơ thẩm xử bị cáo 01 năm tù là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

[3.2] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo K có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là bất lợi đối với bị cáo. Từ đó, cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là thiếu sót. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, để thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chưa thành niên và bị cáo thực sự ăn năn hối cải và tạo điều kiện cho bị cáo ở địa phương để chăm sóc gia đình; Hội đồng xét xử xét thấy giảm 02 tháng tù như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Hoàng K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng K; sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng K 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo K được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày (30/11/2024).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 585, 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: Các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Hoàng Quốc B có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Văn K1 số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo Nguyễn Hoàng K không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Phòng hồ sơ công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Keo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 73/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoàng K lén lút lấy trộm 02 cây cân, đem bán với giá 250.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger