|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NGHỆ AN Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST Ngày 31 - 12 - 2025 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nguyễn .
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Ngô Đình Tưu.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3- Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 179dân sự 162/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 177/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N sinh năm 1993
- Nơi đăng ký thường trú: xóm X, xã H, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: anh Nguyễn Xuân H sinh năm 1990. (vắng mặt)
- Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: xóm X, xã H, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang ở D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/11/2025, bản tự khai đề ngày 28/11/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Xuân H yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 24/08/2011 tại Ủy ban nhân dân xã D (nay là xã H) tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là quan điểm sống khác nhau và cách suy nghĩ không giống nhau của vợ chồng. Cuối năm 2022 chị đi Balan để làm ăn kiếm tiền nuôi con. Đầu năm 2024 thì anh H cũng đi D để làm ăn. Từ lúc chị đi B, vợ chồng không liên lạc với nhau trong thời gian dài và sống ly thân. Nay tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa. Vì vậy, chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Như T sinh ngày 01/9/2012 và cháu Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013. Hiện nay chị đã về nước nên ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Xuân H: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H ở D. Theo chị N trình bày anh H vẫn thường xuyên liên lạc về với bố đẻ là ông Nguyễn Xuân H1; địa chỉ cư trú: xóm X, xã H, tỉnh Nghệ An và ông H1 biết địa chỉ cụ thể của anh H ở D; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 3- Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Nguyễn Xuân H1 (là bố đẻ của anh Nguyễn Xuân H) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông H1 thông báo cho anh H và đề nghị anh H nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị N. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của anh H trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh H không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân H trình bày: Năm 2011 anh H có kết hôn với chị Nguyễn Thị N. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Quá trình chung sống tại Việt Nam thì ông thấy vợ chồng hòa thuận hạnh phúc tuy nhiên sau khi anh H đi làm ở nước ngoài thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay Con trai ông đi lao động ở D. Từ lúc H đi nước ngoài đến nay cháu nó vẫn thường liên lạc với ông qua ứng dụng Zalo để hỏi thăm sức khỏe của người nhà ở Việt Nam. Cháu H đã biết việc vợ đang làm đơn ly hôn, H nói với ông là H đồng ý ly hôn. Còn về địa chỉ của anh H ở nước ngoài, ông không biết cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được. Hiện nay cháu H đang ở nước ngoài nên không thể về Việt Nam để tham gia giải quyết. Quá trình chung sống hai cháu có 02 người con chung là Nguyễn Tâm N1 sinh ngày 01/9/2012; Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013. Hiện nay Các cháu đang sinh sống ở bên ngoại. Về con chung thì anh H có nói với ông là đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Mặc dù cả 02 bên nội ngoại cố gắng hoà giải cho hai cháu nhưng đều không thành. Nay hai cháu có làm thủ tục ly hôn tôi không có ý kiến gì, đề nghị Toà án tiến hành theo đúng quy định pháp luật. Đối với việc tống đạt, thông báo các văn bản của Tòa án cho cháu H tôi đã thông báo và cam đoan giao lại đầy đủ cho cháu H.
2
Quá trình giải quyết vụ án, các con chung là cháu Nguyễn Như T sinh ngày 01/9/2012 và cháu Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013 đều trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì có nguyện vọng ở với mẹ.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân H được ly hôn. Về con chung: giao cháu Nguyễn Như T sinh ngày 01/9/2012 và cháu Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H vì chị N không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu. Buộc chị N chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh H có địa chỉ cư trú tại xóm X, xã H, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3- Nghệ An theo quy định tại Điều 35, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Xuân H hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Ông Nguyễn Xuân H1 (là bố đẻ của anh Nguyễn Xuân H) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 3- Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông H1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H ở D nhưng ông không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh H trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Xuân H vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là quan điểm sống khác nhau và cách suy nghĩ không giống nhau của vợ chồng. Đến năm 2022 thì vợ chồng không liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị N có nguyện vọng được ly hôn với anh H. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, chị N không còn tình cảm với anh H. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là: cháu Nguyễn Như T sinh ngày 01/9/2012 và cháu Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013. Hiện nay chị đã về nước nên ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh H đang sống, làm việc tại nước ngoài và theo bản trình bày nguyện vọng của con chung là có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo nguyện vọng và điều kiện phát triển toàn diện cho cháu nên cần giao 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Xuân H do chị Nguyễn Thị N chưa có yêu cầu.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại Tòa án.
- - Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 122; Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Như T sinh ngày 01/9/2012 và cháu Nguyễn Trâm A sinh ngày 06/10/2013 cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Xuân H.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000₫ án phí DSST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo Biên lai thu tiền số BLTU/25E/0002270 ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ tiền án phí DSST.
- Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật ; anh Nguyễn Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Nguyễn |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Dũng Ngô Đình T1 |
Phan Văn N2 |
Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
