|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2025 Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô H, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị B, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp V, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Ngô H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Huỳnh Thị B tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 01, ngày 08/12/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sinh sống tại ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến gần giữa năm 2012, giữa anh và chị B phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, nên anh và chị B đã ly thân từ đó cho đến nay. Vì các lý do trên, anh nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, anh muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống tốt hơn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị B.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh và chị B có một người con chung tên Ngô Quốc H1, sinh ngày 23/7/2010. Từ khi ly thân đến nay con chung đang ở với chị B. Nên khi ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh và chị B trong quá trình chung sống không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Huỳnh Thị B trình bày tại bản tự khai ngày 08/5/2025 như sau:
Chị thống nhất với trình bày của anh H về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh H, chị có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh Ngô H.
- Về quan hệ con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Ngô Quốc H1, sinh ngày 23/7/2010 đến tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Ngô Hồng X được ly hôn và nuôi con với chị Huỳnh Thị B. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Huỳnh Thị B có chỗ ở hiện nay tại khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Ngô H, bị đơn chị Huỳnh Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị B tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 01, ngày 08/12/2009. Như vậy, hôn nhân giữa anh H với chị B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của anh H về việc xin ly hôn với chị B thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh H và chị B có phát sinh mâu thuẫn, mà theo trình bày của anh H là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, vợ chồng không có tiếng nói chung, nên anh và chị B đã ly thân từ giữa năm 2012 cho đến nay. Anh H xác định trong thời gian anh và chị B sống ly thân với nhau, thì giữa anh và chị B không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với chị B. Đồng thời, chị B cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với anh H.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh H với chị B đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh H yêu cầu được ly hôn với chị B là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho anh H được ly hôn với chị B.
[3.2] Về quan hệ con chung: Anh H và chị B có một người con chung tên Ngô Quốc H1, sinh ngày 23/7/2010. Từ khi ly thân đến nay con đang ở với chị B. Nên khi ly hôn, anh H đồng ý giao con chung cho chị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
HĐXX xét thấy, từ khi anh H và chị B sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quốc H1 và hiện nay cháu Quốc H1 vẫn phát triển bình thường. Đồng thời, chị B cũng có trình bày tại bản tự khai yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu Quốc H1 phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị B được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung: Anh H và chị B trình bày thống nhất là giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô H được ly hôn với chị Huỳnh Thị B.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Ngô Quốc H1, sinh ngày 23/7/2010 cho chị Huỳnh Thị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Huỳnh Thị B nuôi con; anh Ngô H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung: Anh Ngô H và chị Huỳnh Thị B trình bày thống nhất là anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Ngô H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011238 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Anh H không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Hòn Đất; - THADS huyện Hòn Đất; - UBND xã Thổ Sơn, Hòn Đất, Kiên Giang; - Các đương sự; - Lưu HSVA./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô H kiện Huỳnh Thị B
