Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/ HNGĐ-ST

Ngày: 28.11.2025.

V/v “Tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Xuyến,

Bà Đồng Thị Lý.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân & gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xử vắng mặt).

Bị đơn: Bà Tráng Thị M; Sinh năm: 1998; Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà M kết hôn với nhau có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Chúng tôi đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 03 năm 2024 tại UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã Q). Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm và không tôn trọng nhau. Vợ, chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2025 đến nay; Nay ông thấy cuộc hôn nhân của vợ chồng đã xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng.

    Ông xác định tình cảm vợ chồng đã thật sự không còn nữa, hôn nhân của vợ chồng không có tương lai, hạnh phúc gì, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng và thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M để sớm ổn định cuộc sống.

  2. Về con chung: Do vợ chồng không có con chung, không có con nuôi nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án ông Đ cam đoan nội dung bản tự khai là đúng sự thật và trình bày thêm là do điều kiện ở xa đi lại rất khó khăn, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn của vợ chồng không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ý kiến của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, Bị đơn đồng ý lựa chọn và đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An giải quyết việc ly hôn của vợ chồng và xin được trình bày ý kiến như sau:

Bà M cho rằng: Bà và ông Trần Văn Đ kết hôn với nhau có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 03 năm 2024 tại UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã Q). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp và không tôn trọng nhau. Hiện nay, vợ, chồng đã sống ly thân như ông Đ trình bày là đúng.

Bà M cũng thừa nhận quan hệ vợ chồng là hôn nhân hợp pháp, trong cuộc sống chung đã mâu thuẫn và đã sống ly thân một thời gian nay ông Đ xin ly hôn bà không muốn nhưng nếu ông Đ kiên quyết xin ly hôn thì bà cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng bà chưa có con chung đúng như ông Đ trình bày. Bản thân bà hiện nay cũng không mang thai vì vậy nên bà cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà M cam đoan nội dung bản tự khai nêu trên là đúng sự thật và trình bày thêm là do điều kiện đang phải làm ăn ở xa không thể nhiều lần về trực tiếp Tòa án giải quyết việc ly hôn nên bà đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An giải quyết ly hôn của vợ chồng không tiến hành hòa giải, đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, xét xử ly hôn vắng mặt bà và xem xét ý kiến nguyện vọng nêu trên của bà. Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bà cam đoan không khiếu nại, kháng cáo gì quyết định của Tòa án.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Vụ án Hôn nhân và Gia đình không có tranh chấp về con chung; tài sản chung, nợ chung. Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình là loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại thời điểm nguyên đơn xin ly hôn bị đơn có nơi thường trú và nơi ở tại xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28 khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục hòa giải: Toà án đã gửi thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn vắng mặt và sau đó đã có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ và hoà giải các quan hệ khác nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn có mặt, tuy không tiến hành hòa giải được nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều đã có ý kiến, nguyện vọng về việc giải quyết vụ án và Nguyên đơn, bị đơn đều có đề nghị xét xử vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn Đ và bà Tráng Thị M là hôn nhân hợp pháp, vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 03 năm 2024 tại UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q). Hôn nhân có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận và đến tháng 5 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trầm trọng từ đó cho đến nay. Hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa nên ông Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không có hạnh phúc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M để sớm ổn định cuộc sống. Bà M đã có ý kiến nguyện vọng không muốn ly hôn nhưng thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm và cũng đã sống ly thân nên cũng đồng ý ly hôn.

Như vậy, thực tế vợ chồng đã sống ly thân, thấy vợ chồng mỗi người sinh sống một nơi không còn quan tâm gắn kết gia đình với nhau nữa, bản thân ông Đ đã dứt khoát ly hôn, bà M cũng không thể hiện việc níu kéo hạnh phúc gia đình nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn để xử cho ông Trần Văn Đ được ly hôn với bà Tráng Thị M theo qui định tại điều 56 Luật hôn nhân & gia đình.

[3] Về con chung: Ông Đ và bà M đều thừa nhận do vợ chồng không có con chung, không có con nuôi và bà M cũng cam đoan hiện tại không đang mang thai nên ông Đ và bà M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết là có căn cứ.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ và bà M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về án phí: Ông Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo qui định tại các điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28, 39, khoản 4 điều 147, khoản 4, điều 207, điều 227, khoản 1 điều 228, điều 238 điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51 và điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Trần Văn Đ.
    1. Về quan hệ hôn nhân:

      Ông Trần Văn Đ được ly hôn với bà Tráng Thị M.

    2. Về con chung: Ông Đ và bà M đều không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
    3. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Ông Đ và bà M đều không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Trần Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí của ông Đ được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001470 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  3. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Văn Đ và bà Tráng Thị M đều vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An (phòng THADS Khu vực 6 – Nghệ An);
  • - UBND xã Quan Thành, tỉnh Nghệ An
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Phú

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/ HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân & gia đình

  • Số bản án: 73/2025/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger