|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
|
Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-02-2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Vũ Thiên Hương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Chấn |
| Bà Nguyễn Thị Nga |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký TAND huyện Gia Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXX-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 và các Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Cụ Lã Thị T, sinh năm 1938; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. “Có mặt”
-
* Bị đơn: Cụ Đỗ Xuân S, sinh năm 1937; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2024, các lời khai tại Tòa án trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn cụ Lã Thị T trình bày: Tôi và ông Đỗ Xuân S kết hôn trên cơ sở tự nguyện năm 1959. Thời ngày xưa kết hôn chưa phải làm thủ tục đăng ký tại xã nên chúng tôi không có giấy đăng ký kết hôn, sau khi có các Luật hôn nhân và gia đình thì do kém hiểu biết nên chúng tôi cũng không đăng ký kết hôn. Khi khởi kiện, tôi đã xin xác nhận của UBND xã K về việc vợ chồng sống với nhau từ năm 1959. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi cùng chung sống tại thôn T, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. Chúng tôi có với nhau được 06 người con chung: gồm 2 trai và 04 gái. Kể từ khi còn trẻ, ông S đã có tính không chung thủy, lương hàng tháng ông đi làm đều không đưa cho tôi đồng nào. Chỉ một mình tôi làm lụng vất vả, cắn răng nuôi các con khôn lớn. Tôi đã cố gắng cam chịu, chung
sống cùng với ông S để cho các con có gia đình trọn vẹn, tôi cũng nghĩ nếu bỏ nhau sẽ ảnh hưởng đến việc học hành của các con. Tôi cũng đã khuyên bảo ông S nhiều lần nhưng ông vẫn chứng nào tật ấy, không thay đổi. Năm 1992, ông S vẫn có người phụ nữ khác bị tôi và con gái lớn bắt được tại nhà máy S1 gạo tư ở chợ K, G. Tôi vẫn nhẫn nhịn chịu đựng vì các con. Vậy mà nay, khi về già, ông S lại hùa theo hai người con trai, đối xử tệ bạc với tôi. Có đồng lương hưu để hai vợ chồng an hưởng tuổi già thì ông S không đưa cho tôi. Con trai lớn là cháu M thì cầm lương của ông S và còn rút lấy số tiền mà chúng tôi gửi cho người con gái thứ hai cầm hộ. Anh M tuyên bố với tôi là không có trách nhiệm với tôi và tôi không phải là mẹ của anh. Con trai út là cháu V thì đòi lấy sổ đỏ của tôi vì vợ chồng cháu nợ nần nhiều. Tôi sợ nếu đưa sổ, vợ chồng cháu V sẽ bán đi nên không đưa. Do vậy cháu V đã đe dọa tôi là cho tôi một quả mìn. Ông S là người dung túng cho hai anh con trai đối xử như vậy với tôi. Đó là nguyên nhân gây nên mâu thuẫn vợ chồng và tôi xác định không thể chung sống với ông S được nữa. Khi còn trẻ thì ông có tính trăng hoa. Nay về già lại cùng 2 con trai đối xử tệ bạc, dung túng cho chúng bất hiếu với tôi nên tôi đã chuyển về nhà con gái tôi là cháu N sinh sống từ tháng tháng 4/2024 đến nay, quá trình ly thân, ông S và tôi cũng không liên lạc hay quan tâm đến nhau nữa. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa cho tôi được ly hôn với ông S.
Về con chung: Tôi và ông S có 06 con chung gồm bà Đỗ Thị N sinh năm 1959, bà Đỗ Thị T1 sinh năm 1961, bà Đỗ Thị N1 sinh năm 1963, ông Đỗ Văn M sinh năm 1967, bà Đỗ Thị Kim T2 sinh năm 1972, ông Đỗ Xuân V sinh năm 1974, ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Các con tôi đều đã khôn lớn trưởng thành nên không yêu cầu Tòa xem xét về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa giải quyết trong vụ án này. Sau này tôi sẽ yêu cầu sau.
Bị đơn cụ Đỗ Xuân S vắng mặt tại phiên, không có lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương gặp ông S, ông không viết tự khai do già, trình bày không có gì để khai, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Tòa án huyện G thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán tiến hành tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng; Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Căn cứ các Điều 14, 53 Luật HNGĐ năm 2014, Nghị quyết 35/2000-QH10, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX không công nhận quan hệ hôn nhân giữa cụ T và cụ S; Về con chung: Cụ T không yêu cầu, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Cụ T không yêu cầu, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; Về án phí: Vụ án thụ lý từ ngày 21/11/2024 đề nghị áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Nhận định về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ T có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Về thẩm quyền loại việc, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của BLTTDS. Cụ S là bị đơn có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú đều ở thôn T, xã K, huyện G, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Gia Lâm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo lãnh thổ và cấp Tòa án.
[2]. Nhận định về việc xét xử vắng mặt bị đơn cụ Đỗ Xuân S: Xét thấy tại phiên tòa hôm nay cụ S vắng mặt lần thứ 3 không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt cụ S là có căn cứ.
[3]. Nhận định về quan hệ hôn nhân:
-
- Cụ Lã Thị T và cụ Đỗ Xuân S kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1959 có xuất trình giấy xác nhận quan hệ hôn nhân của UBND xã K, do vậy đủ cơ sở kết luận cụ T cụ S sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1959 đến nay.
-
- Về mâu thuẫn vợ chồng: Cụ T trình bày vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên cụ phải chuyển về nhà bà Nghĩa là con gái lớn từ tháng 4 năm 2024 và sống ly thân với cụ S từ đó đến nay. Lời khai của cụ T phù hợp với lời khai của con gái là bà N.
Tuy nhiên, cụ T cụ S chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trải qua các thời kỳ của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, 2000, 2014.
Căn cứ vào
-
+ Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “...Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;”
-
+ Phần 1 Mục I Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định: “1.Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một hoặc hai bên có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về luật hôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung....”
-
+ Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “1.......N2, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống như với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”
-
+ Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “1. N2, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.....”
-
+ Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “2.Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này....”
Căn cứ vào các quy định của pháp luật như trên, cụ T cụ S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1959 đến nay, nay cụ T cụ S có mâu thuẫn, cụ T có đơn yêu cầu xin ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án và căn cứ vào quy định của pháp luật, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ T và không công nhận vợ chồng giữa cụ T cụ S là có căn cứ.
[4]. Nhận định về con chung vợ chồng: Cụ T và cụ S có 06 con chung gồm bà Đỗ Thị N sinh năm 1959, bà Đỗ Thị T1 sinh năm 1961, bà Đỗ Thị N1 sinh năm 1963, ông Đỗ Văn M sinh năm 1967, bà Đỗ Thị Kim T2 sinh năm 1972, ông Đỗ Xuân V sinh năm 1974
Các con chung đều đã trưởng thành, cụ T không yêu cầu xem xét về con chung, HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Nhận định về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Cụ T không yêu cầu, HĐXX không xem xét giải quyết:
[6]. Nhận định về án phí ly hôn sơ thẩm: Yêu cầu xin ly hôn của cụ T được chấp nhận nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326. Tuy nhiên, cụ T là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do vậy miễn 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm cho cụ T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
-
+ Các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 271, 273, 277 của Bộ luật tố tụng dân sự;
-
+ Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
-
+ Khoản b Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;
-
+ Phần 1 Mục I Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;
-
+ Điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Không công nhận cụ Lã Thị T và cụ Đỗ Xuân S là vợ chồng.
-
Về con chung: Cụ Lã Thị T và cụ Đỗ Xuân S có 06 con chung gồm bà Đỗ Thị N sinh năm 1959, bà Đỗ Thị T1 sinh năm 1961, bà Đỗ Thị N1 sinh năm 1963, ông Đỗ Văn M sinh năm 1967, bà Đỗ Thị Kim T2 sinh năm 1972, ông Đỗ Xuân V sinh năm 1974. Tòa án không xem xét giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con.
-
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Tòa án không xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Miễn cho cụ Lã Thị T 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Cụ Lã Thị T được miễn tạm ứng án phí nên không giải quyết tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Báo cho cụ Lã Thị T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Báo cho cụ Đỗ Xuân S vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Thiên Hương |
Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: + Các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 271, 273, 277 của Bộ luật tố tụng dân sự, + Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; + Khoản b Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; + Phần 1 Mục I Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; + Điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phi Tòa án. Xử: 1. Không công nhận cụ Lã Thị T và cụ Đỗ Xuân S là vợ chồng. 2. Về con chung: Cụ Lã Thị T và cụ Đỗ Xuân S có 06 con chung gồm bà Đỗ Thị N sinh năm 1959, bà Đỗ Thị T1 sinh năm 1961, bà Đỗ Thị N1 sinh năm 1963, ông Đỗ Văn M sinh năm 1967, bà Đỗ Thị Kim T2 sinh năm 1972, ông Đỗ Xuân V sinh năm 1974. Tòa án không xem xét giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con. 3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Tòa án không xem xét giải quyết. 4. Về án phi: Miễn cho cụ Lã Thị T 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Cụ Lã Thị T được miễn tạm ứng án phí nên không giải quyết tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Báo cho cụ Lã Thị T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Báo cho cụ Đỗ Xuân S vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
