Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Vĩnh;

Bà Phạm Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 47/2025/HNGÐST-QĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 27/12/2006. Quá trình chung sống, anh chị nhiều lần xảy ra mâu thuẫn do anh N thường xuyên chửi, đánh chị. Từ năm 2021, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn C, xã A sinh sống nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm nhau. Nay, xác định vợ chồng không còn tình

cảm, không thể đoàn tụ nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/11/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết và Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 28/6/2012. Ly hôn, chị đề nghị giao con Đ1 cho anh N trực tiếp nuôi và chị đồng ý cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/tháng; không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và chị Trịnh Thị L kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 27/12/2006. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu muẫn do chị L có quan hệ tình cảm bên ngoài về lạnh nhạt với anh. Từ năm 2021 đến nay, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị L ly hôn anh không đồng ý vì mong muốn các con có gia đình chọn vẹn. Trường hợp, phải ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 28/6/2012; chị L cấp dưỡng cho con bao nhiêu thì anh cũng đồng ý. Con chung Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/11/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Hiện nay, anh có chỗ ở và công việc là thợ xây với thu nhập trung bình khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện nuôi con. Anh không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung.

Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa chị chị L và anh N thể hiện: Anh chị tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2006 và chung sống tại thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn nên từ năm 2021 đến nay chị L bỏ về nhà bố mẹ để sinh sống nên anh chị sống ly thân. Anh chị có hai con chung là Nguyễn Thành Đ đã đủ 18 tuổi và Nguyễn Thành Đ1 hiện đang sống chung với anh N. Hiện nay, anh N đang làm thợ xây nên thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên toà theo thông báo của Tòa án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị L và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4

Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L được ly hôn anh N. Con chung Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/11/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết. Giao con chung Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 28/6/2012 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng; chị L cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét, giải quyết về tài sản chung do các đương sự không yêu cầu. Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con; chị L và anh N có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
  2. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
  3. Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh N.

- Về nội dung:

  1. Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 27/12/2006 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  2. Chị L, anh N trình bày phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống và không tin tưởng nhau về tình cảm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; từ năm 2021 đến nay anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, chị L và anh N đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện

các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do mâu thuẫn giữa chị L và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn anh N.

  1. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/11/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 28/6/2012. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Hiện nay, con chung Nguyễn Thành Đ1 đang chung sống với anh N và cũng có nguyện vọng ở với bố; anh N có chỗ ở, công việc ổn định với thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng; chị L cũng đồng ý để anh N nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Thành Đ1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L đề nghị cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/tháng và anh N không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng này. Xét thấy, căn cứ vào điều kiện kinh tế, thu nhập và thoả thuận của anh chị nên buộc chị L phải cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp.
  2. Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và phải chịu án phí cấp dưỡng cho con.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị L và anh N có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung:
    1. 2.1. Con chung Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/11/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

      Giao con chung Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 28/6/2012 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.

    2. 2.2. Chị Trịnh Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 1.000.000 (Một triệu) đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng cho con tính từ ngày 24/12/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  3. Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng cho con, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004534 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trịnh Thị L còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - UBND xã An Quang (ĐKKH năm 2006);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Bình Nguyễn Hữu Bình

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trịnh Thị L - Anh Nguyễn Văn N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger