Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Nguyễn Viết Ngoan
    2. Trần Thúy Kiên
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Diệp Thị M, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn vắng mặt, xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 02)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Diệp Thị M trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Thị M và ông Nguyễn Văn H do được mai mối rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 17 tháng 4 năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2013. Quá trình chung sống đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm, xảy ra cải vả và sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân không có biện pháp để xóa bỏ mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy cuộc hôn nhân với ông H không còn hạnh phúc nên bà M xin ly hôn.
  • - Về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 22/10/2002 và Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 27/11/2013. Hiện cháu Nguyễn Thị Hồng N1 đang sống với ông H. Khi ly hôn, bà M thống nhất giao cháu Hồng N1 cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà M không cấp dưỡng nuôi con.
  • Đối với cháu Nguyễn Thị Hồng N hiện tại đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà M xác định giữa bà với ông H không tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật đối với ông Nguyễn Văn H theo quy định, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án ông H vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nhận thấy, hôn nhân giữa bà Diệp Thị M và ông Nguyễn Văn H là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn nên bà M khởi kiện xin ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
  3. [3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo bà M trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hàn gắn được dẫn đến cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc.

Về phía ông Nguyễn Văn H, quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà M. Do phía ông H không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng chứng cứ đã thu thập được để xem xét yêu cầu của khởi kiện của bà M.

Xét lời trình bày của bà M tại bản tự khai ngày 22/5/2025 thì bà M cho rằng từ khi vợ chồng ly thân đến nay đã không liên lạc với nhau để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt qua đó cho thấy mâu thuẫn trong hôn nhân đã trầm trọng, bà M và ông H đều không còn muốn níu kéo và đã bỏ mặt mối quan hệ hôn nhân này để Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đạt được mục đích cuối cùng là đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do đó Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp.

  1. [4] Xét về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 22/10/2002 và Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 27/11/2013. Xét thấy, đối với cháu Nguyễn Thị Hồng N1 đang sống với ông H và tại bản tự khai ngày 22/5/2025 cháu N1 trình bày muốn được tiếp tục sống với cha là ông H, nên nếu giao cháu cho bà M nuôi dưỡng sẽ làm thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ. Do đó nghĩ nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Hồng N1 cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp.

Ngoài ra cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà M để đảm bảo cho con chung nhận đầy đủ tình cảm từ cha mẹ như những trẻ khác.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 22/10/2002 hiện tại đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  1. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Do không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.

  1. [6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Diệp Thị M phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Diệp Thị M và ông Nguyễn Văn H.
  • Về con chung: Công nhận bà Diệp Thị M và ông Nguyễn Văn H có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 22/10/2002 và Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 27/11/2013. Giao con chung tên Nguyễn Thị Hồng N1 ông H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành theo nguyện vọng của con chung. Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà M không ai được cản trở. Bà M, ông H có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.
  • Đối với cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 22/10/2002 hiện tại đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
  • Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Diệp Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005997 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà M đã nộp xong án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -VKSND quận Thốt Nốt;
  • -Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • -UBND P. Thuận Hưng, Q. Thốt Nốt;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Việt T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Mười xin ly hôn với ông Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger