Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HNGĐ-PT

Ngày 02/6/2025

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Trang

Bà Lưu Thị Thuỷ Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 20, 26 tháng 5 và 02 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà Gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 “Tranh chấp về ly hôn”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 819/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2028/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Châu Bá L, sinh năm 1980. (có mặt)

Địa chỉ hộ khẩu thường trú: 1 đường V, Phường A, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Lô E, Đường K, KCN C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Kiên L1 thuộc Công ty L3 của Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thảo M, sinh năm 1982. (có mặt)

Địa chỉ: L, A M, Sydney New South W 2000, Australia.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Thị Kim H thuộc Công ty L4 và cộng sự của Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn- ông Châu Bá L trình bày:

Ông Châu Bá L và bà Nguyễn Thảo M tự nguyện kết hôn năm 2010 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 1358 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/04/2010.

Trong quá trình chung sống, ông L và bà M phát sinh nhiều mâu thuẫn do có quan điểm và cách sống không phù hợp, dần dần ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Gia đình và bạn bè hai bên đã nhiều lần khuyên can nhưng hai vợ chồng vẫn không thể dung hòa được. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 01/2023 đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không đạt, tình cảm vợ chồng không còn, nên ông L yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thảo M để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018. Hiện trẻ đang do bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông L đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 25.000.000 đồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - bà Nguyễn Thảo M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà M xác định vợ chồng có mâu thuẫn chủ yếu là do ông L gây ra và Bà không đồng ý với yêu cầu đơn phương ly hôn của ông L.

Về việc nuôi con và cấp dưỡng cho con: Bà M hiện đang là người chăm sóc con chung là trẻ Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018, Bà yêu cầu ông L phải chu cấp cho trẻ Thư tiền học với mức 30.000 đô la Úc/năm và tiền sinh hoạt phí 3.000 đô la Úc/tháng cho đến khi trẻ T học xong cao học.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 819/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định:

“... Chấp nhận yêu cầu của ông Châu Bá L.

1. Ông Châu Bá L được ly hôn với bà Nguyễn Thảo M. Giấy chứng nhận kết hôn số 1358 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 13/04/2010 không còn giá trị.

2. Về con chung: Giao bà Nguyễn Thảo M được nuôi dưỡng trẻ Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018. Ông L cấp dưỡng tiền nuôi con là 25.000.000 đồng/tháng được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2

Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Châu Bá L và bà Nguyễn Thảo M được quyền khởi kiện giải quyết về tài sản chung và nợ chung khi có yêu cầu………”

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 04/11/2024, bị đơn bà Nguyễn Thảo M kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm và giao cho Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn trình bày: Đề nghị hủy tòa bộ bản án sơ thẩm, giao cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại do có yếu tố nước ngoài. Lý do là vì cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc tống đạt và triệu tập hợp lệ không được đầy đủ khiến bà M không thể tham gia. Tòa án nhân dân Quận 5 thụ lý, xét xử sai thẩm quyền do nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn sai với địa chỉ bị đơn thực tế cư trú. Do đó, dẫn đến Tòa án nhân dân Quận 5 chuyển Tòa án nhân dân Quận 11 cũng sai theo quy định. Ông Châu Bá L khởi kiện bà Nguyễn Thảo M tại nơi bà M có hộ khẩu thường trú là 8 T, Phường A, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh là không phù hợp vì đây là địa chỉ hộ khẩu cũ của bà M trước khi chuyển đến thường trú tại 1 V, Phường A, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại Cơ quan Công an P, Quận E và Phường A, Quận A thì bà Nguyễn Thảo M đang sinh sống tại địa chỉ 1 Xóm Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2022. Ngày 03/3/2023 Tòa án nhân dân Quận 5 mới chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân Quận 11, ngày 28/3/2023 Tòa án nhân dân Quận 11 mới thụ lý vụ án, tại thời điểm này bà M đã định cư tại Úc nên thẩm quyền giải quyết phải thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 5 phải xác minh tại cục Q về việc xuất nhập cảnh của bà M, vì nguyên đơn đã biết bà M đi Úc. Nhưng Toà án nhân dân Quận 5 vẫn chuyển cho Toà án nhân dân Quận 11 theo nơi cư trú cuối cùng tại nhà mẹ bà M và Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý 3 tháng sau khi bà M đi Úc. Việc thụ lý sai dẫn đên bà M không nhận được tống đạt vi phạm quyền lợi của bà M. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 thì Toà án nhân dân Quận 11 không có thẩm quyền giải quyết khi có đượng sự, tài sản ở nước ngoài. Theo như bà M trình bày, sau khi nhận được thông báo của Toà án nhân dân Quận 11 thì bà M đã gửi 2 đơn khiếu nại yêu cầu chuyển thẩm quyền. Tuy nhiên quá trình khiếu nại kéo dài, sau đó đã bác đơn khiếu nại và đẩy trách nhệm cho hội đồng xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên căn cứ khoản 2 Điều 220, khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, thì sau khi tống đạt ngày 24/10/2024 được xem là phiên toà thứ nhất phải hoãn phiên toà, các lần tống đạt trước chưa hợp lệ. Tại phiên toà xét xử, hội đồng bác khiếu nại của bà M và tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.

3

Ngoài ra, hội đồng xét xử sơ thẩm sai lầm trong việc áp dụng các quy định không còn hiệu lực là Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Và hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử không phù hợp, không đầy đủ chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Nguyên nhân nguyên đơn muốn đơn phương ly hôn chỉ vì bà M có yêu cầu ra riêng. Nhưng việc bà M theo như phân tích của Hội đồng xét xử là đề nghị chính đáng, do gia đình ông L đã đề nghị trước khi cưới nhưng vẫn không được xét đến khi có xung đột. Đó không là căn cứ để cho ly hôn, vì không phải là mâu thuẫn trầm trọng.

Bị đơn – bà Nguyễn Thảo M trình bày: Bà không đồng ý yêu cầu ly hôn đơn phương của ông L. Nếu ông L đồng ý giải quyết các vấn đề về tranh chấp tài sản chung và cấp dưỡng cho con theo yêu cầu của Bà thì B đồng ý ly hôn. Bà yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con mỗi tháng 50.000.000 đồng, về tài sản chung bà yêu cầu ông L thanh toán cho bà 35 tỷ đồng (bao gồm công sức đóng góp vào khối tài sản chung khoảng 25 tỷ đồng và tiền đầu tư cổ phần bao gồm cả lãi là 10 tỷ đồng). Nếu ông L đồng ý với yêu cầu nêu trên của Bà thì B đồng ý ly hôn. Nếu ông L không đồng ý thì Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn trình bày: Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và xét xử đúng thẩm quyền và quy định pháp luật, nên không đồng ý với yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn. Về thẩm quyền: Ngày 09/12/2022, Tòa án nhân dân Quận 5 đã ra Thông báo thụ lý vụ án số 397/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình số: 397/TLST-HNGĐ về việc “Ly hôn” theo đơn khởi kiện của ông Châu Bá L đối với bà Nguyễn Thảo M. Như vậy, xác định thời điểm bà Nguyễn Thảo M xuất cảnh ra khỏi Việt Nam là sau khi Tòa án nhân dân Quận 5 đã thụ lý vụ án và đã có xác minh về nơi cư trú của cụ thể của bà M là tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Về ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn cho rằng ngày 03/3/2023 Tòa án nhân dân Quận 5 mới chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân Quận 11, ngày 28/3/2023 Tòa án nhân dân Quận 11 mới ra Thông báo thụ lý vụ án, tại thời điểm này bà M đã định cư tại Úc nên Thẩm quyền giải quyết phải thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là không có cơ sở. Bởi lẽ, việc Tòa án nhân dân Quận 11 ra Thông báo thụ lý vụ án là dựa trên việc chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đã được thụ lý ban đầu tại Tòa án nhân dân Quận 5 trong đó bao gồm cả kết quả xác minh nơi cư trú ngày 23/12/2022 của Công an Q1. Do đó, căn cứ theo tinh thần tại Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định bà Nguyễn Thảo M không thuộc trường hợp là đương sự ở nước ngoài. Cùng với đó, căn cứ Điều 471 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án không thay đổi khi vụ án đã được một Tòa án tại Việt Nam thụ lý và giải quyết theo đúng quy định về thẩm quyền của Bộ luật dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và không cần phải chuyển lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về nội dung: Sau khi luật sư và ông L đề nghị Toà án tạm ngừng phiên toà để các bên đương sự hàn gắn tình cảm và thoả thuận về việc giải quyết vụ án thì

4

các bên vẫn không hàn gắn tình cảm được, không thoả thuận được về tài sản chung, Bà M chỉ tập trung đưa ra yêu cầu giải quyết về tài sản chung, về tăng số tiền cấp dưỡng cho con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn giữa ông Châu Bá L và bà Nguyễn Thảo M. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Châu Uyển T cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của ông Châu Bá L cấp dưỡng cho cháu Châu Uyển T mỗi tháng 40.000.000 đồng và ông L thanh toán cho bà M tiền cấp dưỡng cho con tính từ ngày 01/01/2023 đến tháng 5/2025 là 580.000.000 đồng, giao tiền chậm nhất vào ngày 31/12/2025.

Nguyên đơn – ông Châu Bá L trình bày: Kháng cáo của bà M là không có cơ sở vì khi khởi kiện ông đã thông báo nhiều lần cho bà M thông qua luật sư L2 và bà M cũng đã biết việc ông khởi kiện qua email, bà M tự ý bỏ về nhà mẹ và tự ý đem con sáng Úc. Ông nhiều lần thông báo nhưng bà M không hợp tác. Toà án nhân dân Quận 11 đã thụ lý dựa trên các kết quả xác minh, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi Ô và bà M đề nghị Toà án tạm ngừng phiên toà để các bên thoả thuận thì bà M chỉ tập trung đưa ra yêu cầu giải quyết về tài sản chung, về tăng số tiền cấp dưỡng cho con, không quan tâm đến hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, ông đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, cho ông được ly hôn bà M. Về cấp dưỡng ông đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 40.000.000 đồng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật. Và Ông đồng ý thanh toán cho bà M tiền cấp dưỡng cho con tính từ ngày 01/01/2023 đến tháng 5/2025 là 580.000.000 đồng, giao tiền chậm nhất vào ngày 31/12/2025. Về tài sản chung: Ông đồng ý thanh toán cho bà M 22,5 tỷ đồng (bao gồm công sức đóng góp là 12,5 tỷ đồng và cổ phần là 10 tỷ đồng), chia làm 2 lần, lần một là 12, 5 tỷ đồng vào cuối tháng 12/2025; lần hai là 10 tỷ đồng vào tháng 12/2026. Nếu bà M không đồng ý thì bà M được quyền khởi kiện vụ án khác.

Về việc nuôi con: Nguyên đơn – ông Châu Bá L và bị đơn – bà Nguyễn Thảo M đã thống nhất thoả thuận :

  • Giao bà M trực tiếp nuôi con Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018.
  • Ông L cấp dưỡng cho con Châu Uyển T mỗi tháng 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), thực hiện từ tháng 6/2025 cho đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  • Ông L thanh toán cho bà M tiền cấp dưỡng cho con từ tháng 01/2023 đến tháng 5/2025 là 580.000.000 đồng.

Riêng thời hạn thanh toán số tiền 580.000.000 đồng các bên không thống nhất. Bà M yêu cầu ông L thanh toán 580.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông L đồng ý thanh toán 580.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2025.

Kiểm sát viên phát biểu:

5

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà M trong thời hạn luật định.

Về nội dung:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP xác định đương sự trong vụ án không có yếu tố nước ngoài, căn cứ Điều 471 BLTTDS 2015 và điểm b Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện là đúng theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông L đều thừa nhận ông và bà M phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai người đã ly thân từ lâu, Tại phiên toà phúc thẩm, bà M cho rằng ông L có quan hệ bất chính. Do đó, có có thể thấy rằng mâu thuẫn giữa ông L và bà M là trầm trọng, không thể hàn gắn. Toà án nhân dân Quận 11 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L là có cơ sở. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm đã tạo điều kiện cho ông L và bà M có thời gian hàn gắn mối quan hệ hôn nhân, thoả thuận về con chung và tài sản chung nhưng ông L và bà M không hàn gắn tình cảm được, không thống nhất được việc giải quyết vụ án.

Về việc nuôi con: Nguyên đơn – ông L và bị đơn – bà M thống nhất thoả thuận: Giao bà M trực tiếp nuôi con Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018. Ông L cấp dưỡng cho con Châu Uyển T mỗi tháng 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), thực hiện từ tháng 6/2025 cho đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật. Ông L thanh toán cho bà M 580.000.000 chậm nhất vào ngày 31//12/2025.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung do đó bà M được quyền khởi kiện vụ án khác.

Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo về thẩm quyền giải quyết, tố tụng và về cấp dưỡng: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa bán án sơ thẩm. Về hôn nhân: Ông L được ly hôn bà M. Giao bà M trực tiếp nuôi con, ghi nhận việc ông L tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 40 triệu đồng và Ông tự nguyện trả cho bà M 580.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho con từ tháng 01/2023 đến ngày xét xử phúc thẩm. Giao tiền chậm nhất vào ngày 31/12/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thảo M làm trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về kháng cáo của bị đơn - bà Nguyễn Thảo M:

6

[2.1] Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 23/11/2022, ông Châu Bá L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thảo M tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm khởi kiện, ông Châu Bá L là người có hai quốc tịch là Việt Nam và Ú; ông L hiện đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam từ tháng 12 năm 2008 đến nay. Bà Nguyễn Thảo M có quốc tịch Việt Nam và đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam từ năm 2008, trước đây bà M có hộ khẩu thường trú tại 8 T, Phường A, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày 12/9/2018, bà M chuyển hộ khẩu đến địa chỉ: 1 đường V, Phường A, Quận E. Đến ngày 01/01/2023 thì xuất cảnh sang Úc định cư cho đến nay. Tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận 5 thụ lý vụ án (ngày 09/12/2022), bà Nguyễn Thảo M vẫn đang cư trú tại Việt Nam nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

Theo kết quả xác minh của cơ quan Công an P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 25/11/2022 bà M tạm trú tại số A Xóm Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 01/01/2023 bà M xuất cảnh sang Úc nên Toà án nhân dân Quận 5 chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân Quận 11 giải quyết theo thẩm quyền và Toà án nhân dân Quận 11 thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39, Điều 41, Điều 471 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Về tố tụng:

Theo kết quả xác minh tại Cục Q - Bộ C thì bà M đã xuất cảnh sáng Ú vào ngày 01/01/2023 và không có thông tin nhập cảnh. Tòa án nhân dân Quận 11 đã thông báo yêu cầu bà Lưu Thị N là mẹ của bà Nguyễn Thảo M và bà Nguyễn Thảo V là em gái của bà Nguyễn Thảo M cung cấp địa chỉ cụ thể của bà Nguyễn Thảo M tại Úc. Nhưng bà N và bà V không cung cấp địa chỉ của bà M cho Toà án.

Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân Quận 11 cho bà Nguyễn Thảo M và người thân của bà M tại nơi cư trú cuối cùng của bà M ở Quận A. Tại các Đơn khiếu nại đề ngày 12/9/2024 và 23/9/2024 được gửi đến Tòa án nhân dân Quận 11, bà M xác định đã biết về quá trình Tòa án nhân dân Quận 11 hiện đang xem xét giải quyết vụ án ly hôn giữa ông Châu Bá L và bà Nguyễn Thảo M và các ngày xử mà Tòa án thông báo sẽ mở phiên tòa lần 1 vào ngày 16/9/2024 và lần 2 vào ngày 02/10/2024. Tại các Đơn khiếu nại nêu trên, bà trình bày bà là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ rất bận rộn nên không thể bỏ việc về Việt Nam để tham gia tố tụng. Sau khi nhận được Quyết định hoãn phiên tòa lần 1, em gái bà M là Nguyễn Thảo V mới cung cấp địa chỉ cụ thể của bà M tại Úc và bà M đã ủy quyền cho bà Trần Thị Kim H nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Trong nội dung đơn khiếu nại ngày 23/9/2024 bà M xác nhận đã biết quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân Quận 5 và Tòa án nhân dân Quận 11 nhưng đến ngày xét xử bà M vắng mặt vì không thể sắp xếp về Việt Nam tham dự phiên tòa được. Do đó, Tòa án nhân dân

7

Quận 11 xét xử vắng mặt bị đơn – bà M là đúng với quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình.

[2.3] Về quan hệ hôn nhân:

Ông Châu Bá L và Nguyễn Thảo M tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà M là hợp pháp. Vợ chồng ông L và bà M phát sinh nhiều mâu thuẫn trong thời gian dài do không thống nhất về việc giải quyết tài sản chung. Tháng 01/2023, bà M mang con xuất cảnh định cư tại Úc không thông báo cho ông L biết việc xuất cảnh, địa chỉ cư trú tại Úc. Vợ chồng ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay. Toà án cấp phúc thẩm đã tạm ngừng phiên toà tạo điều kiện để các bên trực tiếp trao đổi, hàn gắn tình cảm, thoả thuận về việc giải quyết vụ án nhưng các bên vẫn không hàn gắn tình cảm được, không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án. Bà M không đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông L, yêu cầu ông L thanh toán cho bà 35 tỷ đồng gồm tiền công sức đóng góp của bà trong khối tài sản chung và đầu tư cổ phần. Nếu ông L đồng ý thanh toán 35 tỷ đồng thì bà M đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa ông L và bà M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L là có căn cứ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

* Về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con: Ông L và bà M có 01 con chung tên Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2010, hiện trẻ đang do bà M trực tiếp nuôi. Ông L và bà M thống nhất thoả thuận: Giao bà M trực tiếp nuôi con Châu Uyển T. Ông L cấp dưỡng cho con Châu Uyển T mỗi tháng 40.000.000 đồng, thực hiện từ tháng 06/2025 cho đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật. Ông L thanh toán cho bà M tiền cấp dưỡng cho con Châu Uyển Thư từ tháng 01/2023 đến tháng 5/2025 là 580.000.000 đồng.

Nội dung thoả thuận nêu trên của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên được ghi nhận.

Về thời hạn giao số tiền 580.000.000 đồng, ghi nhận ông L tự nguyện giao cho bà M 580.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2025.

* Về tài sản chung, nợ chung: Tại Toà án cấp sơ thẩm, các bên không yêu cầu giải quyết nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Ông L, bà M có quyền khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về tài sản chung, nợ chung theo quy định của pháp luật.

Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bà M, sửa bán án sơ thẩm, ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con.

[3] Về án phí:

8

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 và Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, ông L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng. Tổng cộng ông L phải chịu 600.000 đồng.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bà Nguyễn Thảo M không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278, Điều 280, Điều 471 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thảo M, sửa bản án sơ thẩm:

1.1. Về hôn nhân: Ông Châu Bá L được ly hôn bà Nguyễn Thảo M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 1358 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 13/04/2010 không còn giá trị.

1.2. Về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự:

  • Giao bà Nguyễn Thảo M trực tiếp nuôi con Châu Uyển T, sinh ngày 19/07/2018.
  • Ông Châu Bá L cấp dưỡng cho con Châu Uyển T mỗi tháng 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), thực hiện từ tháng 6/2025 cho đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  • - Ông Châu Bá L thanh toán cho bà Nguyễn Thảo M tiền cấp dưỡng cho con Châu Uyển Thư từ tháng 01/2023 đến tháng 5/2025 là 580.000.000đ (năm trăm tám mươi triệu đồng). Giao đủ tiền chậm nhất vào ngày 31/12/2025.

Ông Châu Bá L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Châu Uyển T.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không giải quyết. Ông Châu Bá L, bà Nguyễn Thảo M có quyền khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về tài sản chung, nợ chung theo quy định của pháp luật.

1.4. Về án phí:

  • Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Châu Bá L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng cho con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng ông Châu Bá L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do ông Châu Bá L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0010382 ngày 09/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Châu Bá L phải nộp thêm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thảo M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H1 lại cho bà M 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0050106 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án ; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

10

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND, VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKS, TA, THA Q. 11;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (T/20)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Minh

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Thủy Tiên

Đoàn Thị Trang

Trần Thanh Minh

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HNGĐ-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 73/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thảo My, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger