Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS-ST

Ngày: 19.6.2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hữu

  • - Các Hội thẩm nhân dân.

    • Ông Huỳnh Thanh Trà

    • Bà Nguyễn Thị Cúc

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2025/TLST- DS ngày 25 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ trụ sở chính: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Sông H: Bà Dương Thị Bích T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP S Chi nhánh S1 (Theo Giấy ủy quyền số 144/2024/GUQ-CNSH ngày 15/04/2024); ông Trương Đình V, chức vụ: Chuyên viên Quản lý nợ - Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh S1 (Theo Giấy ủy quyền số 165/2024/GUQ-CNSH ngày 15/04/2024). Địa chỉ nhận thông báo: Số B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

  • - Bị đơn: Bà Trần Hữu Thị Duy Q, sinh năm: 1986.

    Địa chỉ thường trú: K T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ hiện tại: D M, phường H, quận C thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai đề ngày 19 tháng 6 năm 2025, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/07/2022, bà Trần Hữu Thị Duy Q có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Q, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất áp dụng 2,4%/ tháng từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,48%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được S2 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay. Lãi quá hạn 3.27% (2,48% x150%).

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà Q đã thực hiện 04 giao dịch với tổng số tiền 142,834,500 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 78,586,013 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Số tiền còn nợ lại bà Q chưa thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Q không có thiện chí trả nợ. Do bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 19/06/2025, Bà Trần Hữu Thị Duy Q còn nợ ngân hàng tổng cộng: 185,141,923 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi mốt ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng trong đó nợ gốc là 111,600,547 đồng, lãi quá hạn là 73,541,376 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Q có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà Q vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/06/2025 là 185,141,923 đồng.

Bà Trần Hữu Thị Duy Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/06/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng, bên bị đơn chịu toàn bộ án phí và các chi phí liên quan khác (nếu có).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Q vẫn không gửi văn bản phản hồi, vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa; nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có văn bản xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Hữu Thị Duy Q phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 19.6.2025 là 185,141,923 đồng.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S (viết tắt là Ngân hàng) khởi kiện bà Trần Hữu Thị Duy Q (viết tắt là bị đơn) phải trả tiền gốc và lãi theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký ngày 06/07/2022, tại thời điểm ký kết hợp đồng bị đơn có địa chỉ tại quận H, thành phố Đà Nẵng, sau đó bị đơn chuyển đi nơi khác nhưng không báo cho ngân hàng biết nên thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt có văn bản xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1]: Ngày 06/07/2022, bà Trần Hữu Thị Duy Q có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Theo thỏa thuận, ngân hàng cấp cho bà Q thẻ tín dụng với hạn mức là 100.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, bà Q đã thực hiện 04 giao dịch với tổng số tiền 142,834,500 đồng. Bà Q đã thanh toán cho Ngân hàng 78,586,013 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), số tiền còn lại chưa thanh toán là 111,600,547 đồng.

Đến ngày 06.01.2024 bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Q vào ngày ngày 06/01/2024 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

[2.2] Xét thấy: Bà Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 185,141,923 đồng trong đó nợ gốc là 111,600,547 đồng, lãi quá hạn là: 73,541,376 đồng.

Kể từ ngày 20.6.2025, bà Q phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Hữu Thị Duy Q.

Tuyên xử:

  1. Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 19.6.2025 là 185,141,923 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi mốt ngàn, chín trăm hai mươi ba đồng chẵn). Trong đó nợ gốc là 111,600,547 đồng, lãi quá hạn là 73,541,376 đồng.

    Kể từ ngày 20.6.2025, bà Q phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

  2. Về án phí: Bà Trần Hữu Thị Duy Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.257.096 (Chín triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn, không trăm chín mươi sáu) đồng.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.274.750 (Ba triệu, hai trăm bảy mươi tư nghìn, bảy trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu số 0416 ngày 28.6.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hữu

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 73/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Hữu Thị Duy Q. Tuyên xử: 1. Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 19.6.2025 là 185,141,923 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi mốt ngàn, chín trăm hai mươi ba đồng chẵn). Trong đó nợ gốc là 111,600,547 đồng, lãi quá hạn là 73,541,376 đồng. Kể từ ngày 20.6.2025, bà Q phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.2. Về án phí: Bà Trần Hữu Thị Duy Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.257.096 (Chín triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn, không trăm chín mươi sáu) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.274.750 (Ba triệu, hai trăm bảy mươi tư nghìn, bảy trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu số 0416 ngày 28.6.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. 3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản 4 án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger