Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS-PT

Ngày: 23/5/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn.

Ông Nguyễn Thanh Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quang Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 111/2025/TLPT-DS ngày 05/4/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 115/2025/QĐ-PT ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Sỹ N, sinh năm 1966 (có mặt).

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Sỹ N: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969 (Theo giấy ủy quyền lập ngày 24/10/2024 tại UBND phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969 (có mặt).

Ông Phạm Sỹ H, sinh năm 1965 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Phạm Sỹ H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn là ông Phạm Sỹ N và bà Nguyễn Thị C trình bày: Gia đình ông N, bà C và gia đình ông H, bà Đ có họ hàng nội tộc. Năm 2017, vợ chồng bà Đ cần tiền để trả Ngân hàng và lấy vốn để kinh doanh phát triển kinh tế gia đình nên bà Đ đã đến và hỏi vay ông N, bà C số tiền là 240.000.000 đồng. Do tin tưởng vợ chồng ông H, bà Đ nên vợ chồng ông N, bà C đồng ý cho vay số tiền trên. Ngày 24/4/2017, bà Đ và con dâu là Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận tiền và viết giấy biên nhận vay tiền. Khi vay, hai bên thống nhất thỏa thuận về lãi suất là 1,4%/1 tháng. Thời gian vay không xác định, chỉ thỏa thuận miệng là khi nào cần thì vợ chồng ông N, bà C sẽ báo trước cho bà Đ, ông H. Quá trình vay, ngày 28/7/2017, bà Đ đã thanh toán trả vợ chồng ông N, bà C được số tiền gốc là 20.000.000 đồng.

Ngày 08/3/2019, bà Đ tiếp tục hỏi vay ông N, bà C số tiền 30.000.000 đồng và vợ chồng ông N, bà C cũng đã cho bà Đ vay số tiền trên.

Như vậy, tổng số tiền gốc bà Đ vay của ông N, bà C là 250.000.000 đồng. Số tiền này vợ chồng bà Đ đã thanh toán trả lãi cho vợ chồng ông N, bà C được hết tháng 4/2019.

Tháng 5/2019, bà Đ vào trong Nam làm ăn nên ông N, bà C có nói chuyện với ông H về việc thanh toán lãi và ông H đã trả lãi cho vợ chồng ông N, bà C 02 lần, một lần 5.000.000 đồng và một lần 3.500.000 đồng. Sau đó, ông H không trả lãi nữa. Nay bà Đ đã về, vợ chồng ông N, bà C đã đề nghị bà Đ, ông H thanh toán nhưng bà Đ, ông H không thanh toán trả vợ chồng ông N, bà C. Do đó, vợ chồng ông N, bà C làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Sỹ H và bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm thanh toán trả vợ chồng ông N, bà C số tiền gốc vay là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ tháng 5/2019 đến tháng 11/2024 (tạm tính) là 67 tháng với lãi suất 1,4%/1 tháng. Cụ thể: 250.000.000 đồng x 1,4%/1 tháng x 67 tháng = 234.500.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền ông N, bà C yêu cầu ông H, bà Đ phải trả số tiền gốc + lãi tạm tính đến hết tháng 11/2024 là 250.000.000 đồng + 234.500.000 đồng = 484.500.000 đồng.

Đối với anh Phạm Sỹ T và chị Nguyễn Thị Thu H1 (là con trai và con dâu của ông H, bà Đ) thì ông N, bà C xin được rút yêu cầu khởi kiện vì thực tế chị H1 và anh T không trực tiếp vay tiền ông N, bà C mà chị H1 là người chứng kiến việc giao nhận tiền, đếm tiền và giúp bị đơn viết giấy biên nhận vay tiền. Đồng thời, ông N, bà C cũng xin rút một phần thời gian tính lãi suất theo đơn khởi kiện.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Vào năm 2017, khi đó vợ chồng bà vẫn chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc, cùng nhau làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Thời điểm đó, vợ chồng bà có vay vốn ngân hàng và làm kinh tế trang trại, bán hàng tạp hóa nên cần tiền để trả ngân hàng và lấy vốn kinh doanh. Do đó, được sự đồng ý của ông H, bà đã hỏi vay tiền vợ chồng bà C, ông

2

N là người trong họ nội tộc với gia đình bà thì được ông N, bà C đồng ý cho vay với số tiền 240.000.000 đồng. Bà đã cùng con dâu nhận tiền và chính con dâu bà viết giấy biên nhận và ký với tư cách người làm chứng. Sau khi nhận tiền, vợ chồng bà đã sử dụng số tiền trên đúng mục đích là dùng để trả nợ tín dụng và lấy vốn kinh doanh, làm trang trại, lo việc gia đình vì sau khi vay tiền thì bố chồng bà mất, nên vợ chồng bà đã sử dụng một phần tiền đó vào việc lo ma chay cho bố chồng bà. Tuy nhiên, sau đó việc làm ăn của gia đình gặp nhiều khó khăn dẫn đến không có khả năng thanh toán khoản nợ mà vợ chồng bà đã vay. Việc vay mượn tiền của ông N, bà C thì ông H biết vì địa điểm giao nhận tiền vay là tại nhà bà Đ, ông H cũng có mặt ở đó. Số tiền vay đều được sử dụng vào mục đích chung của gia đình bà.

Quá trình vay, bà đã thanh toán trả ông N, bà C số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Đến ngày 08/3/2019, bà lại tiếp tục vay số tiền 30.000.000 đồng của bà Đ và bà đã trả tiền lãi đến hết tháng 4/2019. Từ tháng 5/2019 đến nay, vợ chồng bà không thanh toán được cho ông N, bà C khoản tiền gốc và lãi nào khác.

Nay ông N, bà C yêu cầu bà và ông H phải thanh toán trả khoản tiền đã vay thì bà xác nhận là đúng và bà đồng ý trả ông N, bà C khoản tiền gốc vay là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ tháng 5/2019 đến nay theo yêu cầu của ông N, bà C với lãi suất là 1.4%/1 tháng (tạm tính đến hết tháng 11/2024) như theo yêu cầu của ông N, bà C.

Bị đơn là ông Phạm Sỹ H trình bày: Ông và ông Phạm Sỹ N là họ hàng nội tộc. Vào năm 2017, khi ông và bà Đ còn chung sống với nhau nhưng việc làm ăn của bà Đ thì ông không can thiệp nên bà Đ có vay tiền của ai thì đều không thông qua ông. Bà Đ có vay tiền nhưng vay để làm gì, vay bao nhiêu, sử dụng như thế nào thì ông hoàn toàn không biết.

Đầu năm 2019, bà Nguyễn Thị C là vợ của ông Phạm Sỹ N có sang nói chuyện với ông là việc bà Đ vay của bà C số tiền 250.000.000 đồng thì ông có nói lại là “Việc vay nợ cứ để từ từ để chờ bà Đ về thì giải quyết với nhau”, do là người trong họ nên ông vẫn có thái độ tôn trọng và đã giúp bà Đ trả hai lần cho bà C là khoảng 8.000.000 đồng. Số tiền này, ông tự nguyện trả cho bà Đ mà không yêu cầu đòi lại.

Năm 2015, ông về hưu và trở về địa phương chung sống cùng gia đình, bà Nguyễn Thị Đ lúc đó ở nhà bán hàng tạp hóa. Đến năm 2016, gia đình ông làm chuồng trại và năm 2017 thì ông mới làm chăn nuôi bò. Lúc đó, bà Đ vẫn bán hàng tạp hóa còn ông không đồng ý cho bà Đ bán hàng thức ăn chăn nuôi. Thời điểm bà Đ vay tiền của bà C thì gia đình ông đang sống chung cùng nhau.

Năm 2017, vợ chồng ông có thế chấp sổ đỏ đi vay ngân hàng ở khu vực Đ, hình thức vay như thế nào ông không nắm được. Đến khoảng năm 2020, 2021 thì gia đình ông phải bán đất mới tất toán xong còn việc bà Đ vay nợ bà C như thế nào thì ông hoàn toàn không biết. Khi cho bà Đ vay tiền, bà C cũng không nói với ông, không trao đổi với ông trước. Đến khi bà Đ bỏ vào N thì bà C mới sang nói chuyện với ông và lúc đó ông mới biết số tiền bà Đ vay của bà C. Nay

3

bà C và ông N có đơn khởi kiện đề nghị ông phải cùng bà Đ thanh toán số tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với tổng số tiền là 234.500.000₫ thì ông không nhất trí với lý do:

Thứ nhất: Thời điểm bà Đ vay tiền của ông N và bà C, ông hoàn toàn không biết, vợ chồng bà C và bà Đ cũng không nói chuyện với ông về việc vay tiền nên ông không nắm được nội dung vay tiền giữa hai bên như thế nào.

Thứ hai: Thời điểm năm 2017, ông đã nghỉ hưu và về chung sống cùng gia đình. Năm 2014, gia đình ông thế chấp đất để vay ngân hàng nhưng số tiền vay không phải thanh toán vào năm 2017 vì mãi đến năm 2020, 2021 khi bà Đ vỡ nợ thì ông đã phải bán đất đi để tất toán trả nợ Ngân hàng chứ không phải trả nợ năm 2017.

Thứ ba: Ông đã cảnh báo bà Đ nhiều lần về việc làm ăn nhưng bà Đ không tôn trọng ông, không nghe lời ông, tự ý làm mọi việc cho nên tất cả việc tiêu pha, làm ăn của bà Đ, ông hoàn toàn không hay biết. Khi bà Đ làm ăn vỡ nở ra thì gia đình ông đã phải bán nhà đất để trả nợ cho những khoản nợ vợ chồng cùng biết.

Thứ tư: Năm 2017, ông về hưu có lương và làm vườn, trồng cây bình thường và bà Đ không mua thêm bất kỳ tài sản gì cho gia đình để phát triển kinh tế chung.

Thứ năm: Năm 2017 gia đình ông không làm trang trại, bà Đ bán hàng tạp hóa đến đầu năm 2018 thì đóng cửa không bán nữa.

Thứ sáu: Số tiền bà Đ vay thêm là 30.000.000 đồng, ông cũng không biết, thời điểm này vợ chồng ông đã mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân.

Thứ bảy: Thời điểm bà Đ vay tiền của bà C là vợ chồng ông đã có mâu thuẫn, không có liên quan gì về kinh tế vì ai làm thì người đó chịu từ năm 2012. Đến cuối năm 2017 thì vợ chồng ông đã sống ly thân, việc ai người đó làm.

Số tiền lãi trước đây bà Đ thanh toán cho bà C thì ông cũng không có bất cứ yêu cầu gì và không đề nghị giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu H1 trình bày: Chị xác nhận có cùng mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị Đ có nhận tiền và đếm tiền bà C cho mẹ chồng chị vay tại nhà của gia đình chị. Chị cũng là người viết giấy vay tiền giúp mẹ chồng chị. Quá trình vay tiền thì bà C có đến gia đình chị lấy tiền lãi nhiều lần và chị cũng đã trả tiền lãi cho bà C nhiều lần giúp mẹ chồng chị. Số tiền chị trả lãi là tiền của mẹ chồng chị và tiền bán hàng tại quán. Gia đình chị trước đây sống chung với nhau, kinh tế không độc lập vì gia đình kinh tế thu về một mối và sử dụng chung.

Như vậy, đối với nhiều khoản vay nợ của mẹ chị thì chị có biết nhưng mẹ chị vay vào việc gì thì chị không nắm được. Mọi việc chi tiêu, kinh tế trong gia đình là do mẹ chị quyết định, bố chị thời điểm năm 2017 có nhà nhưng ông có biết việc vay nợ đó không thì chị không biết.

4

Nay bà C, ông N khởi kiện bố mẹ chị thì quan điểm của chị là Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn chị có nhận tiền, có viết giấy, nhưng không hỏi vay, không sử dụng số tiền đó nên chị chỉ là người làm chứng đối với việc vay nợ của mẹ chồng chị và bà C. Chồng chị cũng không liên quan gì đến số tiền vay này.

Về việc chị trả tiền lãi thì chị không có bất cứ yêu cầu gì đối với mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị Đ vì số tiền này là tài sản chung của gia đình.

Từ những nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; 228; Điều 217; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 465, 466, khoản 2 Điều 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27; Khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Phạm Sỹ H và bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán trả ông Phạm Sỹ N và bà Nguyễn Thị C số tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/01/2025 là 240.683.000 đồng. Tổng số tiền bà Đ và ông H phải thanh toán trả bà C và ông N là 490.683.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 05/02/2025, bị đơn là ông Phạm Sỹ H có đơn kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xem xét lại bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn là ông Phạm Sỹ H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Phạm Sỹ H nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền nợ vay theo thỏa thuận tại giấy vay tiền được ký kết giữa hai bên vào ngày 24/4/2017 và 08/3/2019, do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: Tòa án nơi bị đơn cư trú”. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do vậy Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Ngày 24/4/2017 bà Nguyễn Thị Đ có vay của vợ chồng ông Phạm Sỹ N, bà Nguyễn Thị C số tiền là 240.000.000 đồng với lãi suất là 1,4%/1 tháng không thỏa thuận thời hạn vay có viết giấy vay tiền và chữ ký của người cho vay, người vay tiền và người thừa kế (người làm chứng) là chị Nguyễn Thị Thu H1 là con dâu của bà Đ. Ngày 28/7/2017 bà Đ đã thanh toán trả cho bà C số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Đến ngày 08/3/2019, bà Đ tiếp tục vay bà C số tiền 30.000.000 đồng có viết giấy vay tiền nhưng không ghi thời hạn vay, mục đích vay và lãi suất. Tổng số tiền gốc bà Đ vay của vợ chồng ông N, bà C là 250.000.000 đồng. Tháng 5/2019 bà Đ vào trong Nam làm ăn nên vợ chồng ông N, bà C có nói chuyện với ông H về việc thanh toán tiền lãi và ông H đã trả lãi cho vợ chồng ông N, bà C 02 lần, một lần 5.000.000 đồng và một lần 3.500.000 đồng. Sau đó ông H không trả lãi nữa. Do đó, vợ chồng ông N, bà C khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Đ, ông H trả ông bà số tiền gốc là 250.000.000 đồng và lãi tính từ tháng 5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm. Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi bản án sơ thẩm xử, bị đơn là ông H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xem xét lại bản án sơ thẩm. Xét kháng cáo của ông H Hội đồng xét xử thấy:

Bà Đ vay tiền của vợ chồng ông N, bà C vào năm 2017, 2019 thời điểm này bà Đ, ông H vẫn chung sống và có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận, kinh tế gia đình tập trung. Mặc dù bà Đ đứng vay, ký giấy biên nhận vay tiền nhưng việc vay tiền là công khai, thời gian vay kéo dài.

6

Địa điểm giao nhận tiền vay tại nhà ông H, con dâu ông H là chị Nguyễn Thị Thu H1 đã trực tiếp đếm tiền và viết giấy biên nhận, tiền lãi được trả đều hàng tháng, gia đình ông H sống chung đoàn kết, hòa thuận. Việc vay tiền không có mục đích giấu giếm và nhằm sử dụng mục đích riêng. Việc ông H trình bày không biết việc vay tiền giữa và Đ và vợ chồng ông N là không có cơ sở. Do đó, số tiền vay được xác định sử dụng vào mục đích chung, xử lý công việc chung của gia đình nên cần gắn trách nhiệm của ông H với bà Đ đối với khoản vay của bà C, ông N. Vì vậy bản án sơ thẩm buộc vợ chồng bà Đ, ông H cùng có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà C, ông N số tiền gốc và lãi là đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên có thể thấy, bản án sơ thẩm xử buộc ông Phạm Sỹ H và bà Nguyễn Thị Đ trả cho ông Phạm Sỹ N và bà Nguyễn Thị C số tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Ông H là người kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Sỹ H.

Tuy nhiên, phần tuyên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong phần quyết định của bản án sơ thẩm không đúng với hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm về phần tuyên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa về phần tuyên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền nên ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147; 217; 227; 228; 235; 260; 262; 264; 266; 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357; 463; 465; 466; 468; 469 Bộ luật dân sự; Điều 27; Khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử: Sửa bản án sơ thẩm.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc ông Phạm Sỹ H và bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán trả ông Phạm Sỹ N và bà Nguyễn Thị C số tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/01/2025 là 240.683.000 đồng. Tổng số tiền bà Đ và ông H phải thanh toán trả bà C và ông N là 490.683.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:
    • - Ông Phạm Sỹ N và bà Nguyễn Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà C số tiền 12.680.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000716 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
    • - Ông Phạm Sỹ H và bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 23.627.000 đồng (làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ông Phạm Sỹ H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Phạm Sỹ H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003226 ngày 05/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

8

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Ngọc Sơn - Nguyễn Thanh Bình

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 73/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Ông Phạm Sỹ N, sinh năm 1966 và Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger