Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS - PT

Ngày 15 tháng 4 năm 2025

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS - ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1352024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1945 (có mặt).

    Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn H, Công ty TNHH MTV T4, Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1948; địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Phùng Thị T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
    • - Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1947; địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông là anh trai của ông Nguyễn Văn C, thửa đất hiện nay đang có tranh chấp giữa ông và ông C có nguồn gốc là do bố mẹ ông là ông Nguyễn Văn H1 (chết năm 2001) và bà Vũ Thị T2 (chết năm 1953) để lại cho 03 anh em là ông, ông C và ông Nguyễn Văn Q. Sau khi được bố mẹ cho đất, ông ở trên đất từ đó cho đến hiện nay, còn ông C không sinh sống trên thửa đất của bố mẹ cho mà sinh sống cùng gia đình con trai ở thửa đất khác.

Năm 1993 ông được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích bao nhiêu thì ông không nhớ cụ thể. Năm 2007, ông và bà Đào Thị B ly hôn, tại bản án số 43/2007/HNGĐ-PT ngày 23/8/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã chia đất, nhà cho ông và bà B mỗi người được sử dụng một phần, kèm theo Bản án là sơ đồ nhà đất, do ông thấy chia như vậy chưa phù hợp nên ngày 09/10/2007, ông và bà B đã thống nhất thỏa thuận chia lại diện tích đất, không theo như quyết định tại Bản án và thống nhất mỗi người được 200m² đất thổ cư, còn đất vườn đề nghị địa chính xã xuống kiểm tra và đo đạc để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2009, ông và bà Phùng Thị T1 (là vợ sau này của ông) được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 39A, tờ bản đồ số 15, diện tích 1224m² ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với diện tích đất giữa ông và ông C khi bố ông cho không có mốc giới. Tuy nhiên, có 01 đoạn tường xây gạch chỉ (phía cuối giáp đất bà B) do ông xây dựng khoảng tháng 8 năm 2022, tiếp theo đó là 01 đoạn tường xây gạch xỉ nối liền do gia đình ông C xây dựng năm nào ông không nhớ, tuy nhiên không xây kéo dài hết đất nên tháng 8 năm 2022 ông lại xây nối tiếp 01 đoạn tường bằng gạch chỉ và nối tiếp thẳng với bức tường bằng gạch xỉ đó với ý định xây kéo dài hết đất để làm ranh giới giữa hai bên và kéo lên đến đường dân sinh. Việc xây tường này do ông và ông C đã thỏa thuận trước với nhau xây như vậy nên ông cũng đồng ý để xây; tuy nhiên khi ông đang xây dở thì xảy ra tranh chấp giữa ông và ông C vì ông C cho rằng mốc giới đất giữa nhà ông và nhà ông C là cây đa phía đường dân sinh nên hai bên không thống nhất được mốc giới và ông cũng không tiếp tục xây tường được.

Quá trình Tòa án cùng chính quyền địa phương tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, ông đã chỉ vị trí đất tranh chấp; tuy nhiên ông chỉ vị trí như trên là căn cứ vào thỏa thuận miệng trước đây giữa ông và ông C, nhưng vì ông C lại không thực hiện theo thỏa thuận đó và không để ông xây tiếp bức tường, nên ông khởi kiện yêu cầu ông C phải trả đủ ông 4,1m chiều dài cạnh đường dân sinh để đảm bảo đất của ông chiều dài đường dân sinh là 39,5m vì hiện nay ông đo lại chỉ còn 35,4m; đối với cạnh giáp đất bà B, ông yêu cầu ông C phải trả ông là 3,88m vì thực tế ông đo lại chỉ còn 33,12m mà trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông là 37m (trừ cổng), tổng diện tích đất ông C phải trả ông là 151,05m², nên ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông C trả lại cho ông diện tích đất theo đúng số đo các chiều cạnh như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được Nhà nước cấp ngày 18/3/2009.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt, tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ông là em trai của ông Nguyễn Văn T, thửa đất ông T đang có đơn khởi kiện đến Tòa án tranh chấp hiện nay có nguồn gốc là do bố mẹ ông là ông Nguyễn Văn H1 (chết năm 2000) và bà Vũ Thị T2 (chết khoảng năm 1953) chia cho 03 anh em là ông, ông T và ông Nguyễn Văn Q. Năm 1993 gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bố mẹ cho; đến năm 2009 gia đình ông được Nhà nước cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất của gia đình ông là thửa số 19, tờ bản đồ số 15, diện tích 2184m² (trong đó có cả đất gia đình ông vỡ hoang) ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi được bố mẹ cho đất, gia đình ông không ở trên đất mà chỉ trồng các cây cối trên đất. Giáp với thửa đất của gia đình ông là thửa đất của ông Nguyễn Văn T. Giữa thửa đất của gia đình ông và ông T có mốc giới là 01 cây đa, do ông trồng từ khi bố ông cho đất (trồng năm 1985) và 01 bức tường ngang đắp đất từ ngày xưa do gia đình ông đắp; đối với bức tường bằng gạch xỉ do gia đình ông xây khoảng năm 1995 là do tường đất bị đổ một đoạn nên có xây lại, sau này do mưa gió nên bức tường đắp đất cũng bị đổ hết. Năm 2022 ông T đã tự ý xây lại bức tường bằng gạch chỉ và không thông báo cho gia đình ông biết, ngoài ra ông T đã tự ý thuê người chặt cây đa; khi đó gia đình ông biết sự việc nên ngăn không cho ông T xây dựng tường tiếp và không cho ông T chặt cây đa. Ông xác định mốc giới giữa đất của ông và ông T là cây đa phía đường dân sinh do ông trồng và từ cây đa kéo thẳng vào phía trong đất là mốc giới của hai gia đình. Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại cho ông T 4,1m chiều dài cạnh đường dân sinh và 3,88m chiều rộng phía giáp đất nhà bà B, ông không đồng ý vì nhà ông không lấn chiếm đất nhà ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị T1 trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn T năm 2007, sau khi kết hôn bà về chung sống cùng ông T ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2009, bà và ông T được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 39A, tờ bản đồ số 15, diện tích 1224m² ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo bà được biết nguồn gốc đất do bố mẹ ông T để lại. Thửa đất của ông T giáp với đất của ông C (Ông C là em trai ông T). Thửa đất của ông C để trống chưa xây dựng nhà cửa gì trên đất. Khi bà kết hôn với ông T và về chung sống cùng ông T thì bà đã thấy có 01 đoạn tường bằng gạch xỉ do gia đình ông C xây, còn xây từ năm nào bà không biết. Sau này năm 2022 ông T có xây thêm 01 đoạn tường nối liền với đoạn tường gạch xỉ thì xảy ra tranh chấp giữa hai bên. Hiện nay, ông T khởi kiện đề nghị ông C trả lại phần đất đã lấn chiếm của ông T, đảm bảo ông T sử dụng đúng diện tích đất theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp năm 2009, quan điểm của bà là đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Bà Phạm Thị C1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn C, bà và ông C kết hôn năm 1969. Sau khi kết hôn, bà về chung sống cùng gia đình ông C. Bố mẹ chồng bà là ông Nguyễn Văn H1 (chết năm 2000) và bà Vũ Thị T2 (chết khoảng năm 1953). Thửa đất hiện nay ông T đang có đơn khởi kiện buộc ông C trả lại đất có nguồn gốc là của bố mẹ chồng bà. Theo bà được biết, trước đây bố mẹ chồng bà có chia đất cho 03 người con là ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn C – Chồng bà. Tuy nhiên, bà và ông C chưa sinh sống trên thửa đất bố mẹ cho, mà chỉ trồng cây cối trên đất, hiện nay bà và ông C đang ở cùng con trai thứ 2 tại thửa đất khác ở xã H. Năm 1993 bà và ông C được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bố mẹ chồng cho, diện tích cụ thể là bao nhiêu thì bà không nhớ; đến năm 2009 bà và ông C được Nhà nước cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 19, tờ bản đồ số 15, diện tích 2184m² ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, diện tích đất được cấp đổi lại lớn do có cả diện tích đất vợ chồng bà vỡ hoang. Giáp với thửa đất của ông bà là thửa đất của ông Nguyễn Văn T. Giữa thửa đất của ông bà và ông T có mốc giới là 01 cây đa, do ông C trồng từ khi bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà đất và 01 bức tường ngang đắp đất từ ngày xưa do vợ chồng bà đắp; tuy nhiên do mưa gió nên bức tường đã bị đổ. Năm 1995 gia đình bà xây 01 đoạn tường bằng gạch xỉ và vẫn xây trên nền tường đắp đất cũ. Năm 2022 ông T đã tự ý xây lại bức tường ngang mà không thông báo cho gia đình bà biết, ngoài ra ông T đã tự ý thuê người chặt cây đa; khi đó gia đình bà biết sự việc nên ngăn không cho ông T xây dựng tường tiếp và không cho ông T chặt cây đa. Bà xác định mốc giới giữa đất của vợ chồng bà và đất ông T là cây đa do ông C trồng và từ cây đa kéo thẳng vào phía trong đất là mốc giới của hai gia đình. Nay ông T cho rằng ông C lấn chiếm đất của ông T là không đúng, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào các Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 203 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn C phải trả lại phần đất lấn chiếm là 4,1m chiều dài cạnh đường dân sinh và 3,88m chiều rộng phần đất giáp bà Đào Thị B, tổng diện tích là 151,05m².
  2. Ranh giới giữa hai thửa đất số 39A và thửa đất số 19 tờ bản đồ số 15 tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc được giới hạn theo các mốc giới 5,4,3,6 thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 31/01/2024 của Công ty Cổ phần T5 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

    Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng và án phí đối với các đương sự.

Sau khi án sơ thẩm xử xong ngày 24 tháng 7 năm 2024 nguyên đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm. Đề nghị sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Điều chỉnh phần quyết định của bản án; Buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ đoạn tường cao 0.8m, dài 11.79m, rộng 0.1m được giới hạn bởi các điểm 1,2 theo như sơ đồ hiện trạng ngày 31/01/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T làm trong hạn luật định hợp lệ được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T nhận thấy:

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn C do bố mẹ ông T và ông C là cụ Nguyễn Văn H1 và cụ Vũ Thị T2 để lại nhưng không có mốc giới. Thửa đất ông Nguyễn Văn T quản lý, sử dụng là thửa số 39, tờ bản đồ số 15 diện tích 1.676m² tên chủ sử dụng đất Nguyễn Văn T. Thửa đất ông Nguyễn Văn C quản lý, sử dụng là thửa số 19, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.584m², tên chủ sử dụng đất Nguyễn Văn C.

Quá trình sử dụng đất đến năm 2007 ông T, bà B ly hôn và đã được Tòa án giải quyết chia tài sản. Ngày 09/10/2007, ông T và bà B đã thống nhất thỏa thuận chia lại diện tích đất, không theo như quyết định tại Bản án và thống nhất mỗi người được 200m² đất thổ cư, còn đất vườn đề nghị địa chính xã xuống kiểm tra và đo đạc để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 18/3/2009, ông T và vợ là bà Phùng Thị T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 39A, tờ bản đồ số 15, diện tích là 1.224m²; địa chỉ thửa đất ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 10/6/2009, hộ ông Nguyễn Văn C và vợ là bà Phạm Thị C1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 15, diện tích là 2.184m²; địa chỉ thửa đất ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T và ông C cung cấp cho Tòa án, chỉ thể hiện diện tích, hình dáng thửa đất, không thể hiện số đo các chiều cạnh cụ thể của thửa đất.

Kết quả xem xét tại chỗ ngày 31/01/2024, thể hiện: Thửa đất số 39A, tờ bản đồ số 15 có tổng diện tích theo chỉ dẫn của ông T là 1.292m² (bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp là 23m²). Do ông Nguyễn Văn C không chỉ dẫn thửa đất và không đồng ý đo đạc nên Công ty T5 tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng từ các hộ liền kề và từ một phần tranh chấp do hộ ông C chỉ dẫn, thể hiện diện tích đất ông C sử dụng là 1.670,5m² (bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp là 23m²). Diện tích đất ông Trung thực T3 sử dụng nhiều hơn so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và diện tích đất ông C sử dụng ít hơn so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.

Phần diện tích đất ông T đang sử dụng phía giáp đường dân sinh đã được ông T xây tường bao loan và điểm cuối bức tường bao loan chỉ xây đến giáp gốc cây đa thì dừng lại; còn phần diện tích đất phía giáp nhà bà B thể hiện có 01 đoạn tường xây gạch chỉ do ông T xây cao 1,1m, dài 10,17m, rộng 0,10m (từ điểm 4 đến điểm 5 – Điểm 5 giáp với phần đất của bà B) và được xây ngăn cách với đất của ông C; 01 đoạn tường xây gạch xỉ do ông C xây cao 0,8m; dài 5.80m; rộng 0,10m (từ điểm 3 đến điểm 4) và 01 đoạn tường xây gạch chỉ do ông T xây cao 0,8m, dài 11,79m, rộng 0,10m (từ điểm 1 đến điểm 2).

Vị trí tranh chấp giữa hai bên đang tồn tại 03 đoạn tường, cụ thể: 01 đoạn tường xây gạch chỉ do ông T xây năm 2022, cao 1,1m, dài 10,17m, rộng 0,10m (từ điểm 4 đến điểm 5 – Điểm 5 giáp với phần đất của bà B); 01 đoạn tường xây gạch xỉ do gia đình ông C xây năm 1995, cao 0,8m. dài 5.80m, rộng 0,10m (từ điểm 3 đến điểm 4) và 01 đoạn tường xây gạch chỉ do ông T xây năm 2022, cao 0,8m, dài 11,79m, rộng 0,10m (từ điểm 1 đến điểm 2). Từ năm 1995 khi ông C xây đoạn tường gạch xỉ từ điểm 3 đến điểm 4 các bên không có sự tranh chấp, năm 2022 ông T xây đoạn tường từ điểm 4 đến điểm 5 thì hai đoạn tường được xây nối tiếp nhau và không xảy ra tranh chấp. Chỉ đến khi ông T xây đoạn tường từ điểm 2 đến điểm 1 thì hai bên mới xảy ra tranh chấp.

Đối với cây đa trồng trên đất giáp phần đường dân sinh (Hiện cây đa đã chết và còn 1 đoạn thân cây tính từ gốc cao khoảng 02m), ông C cho rằng cây đa do ông trồng và là mốc giới thửa đất, ông T không thừa nhận nội dung này. Tuy nhiên, thực tế ông T chỉ xây dựng tường bao loan phía đường dân sinh đến giáp với gốc cây đa, vì vậy có cơ sở xác định mốc giới giữa hai thửa đất là đoạn tường từ điểm mốc 5 đến điểm mốc 4 kết nối với đoạn tường từ điểm mốc 4 đến điểm mốc 3 và từ điểm mốc 3 kéo thẳng đến điểm mốc 6 (theo mốc giới 5,4,3,6 – Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất đo vẽ ngày 31/01/2024).

Như vậy ông T cho rằng ông C lấn chiếm đất là không có cơ sở vì hiện nay đất do ông T sử dụng nhiều hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc sử dụng đất của hai bên từ trước đến nay là ổn định nên cần tôn trọng mốc giới hiện có. Xác định ranh giới giữa thửa đất số 39A và thửa đất số 19 theo các mốc giới 5,4,3,6 thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 31/01/2024 của Công ty Cổ phần T5 bản đồ CDP là có căn cứ. Kháng cáo của ông T không được chấp nhận nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên trên của gia đình ông C còn có bức tường gạch do ông T xây năm 2022. Cần buộc ông T tháo dỡ để đảm bảo mốc giới và diện tích sử dụng của các bên. Cấp phúc thẩm cần bổ sung nội dung này đối với bản án sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng và án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.

Về án phí: Nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không được chấp nhận, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có cứ cứ cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Căn cứ vào các Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 203 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn C phải trả lại phần đất lấn chiếm là 4,1m chiều dài cạnh đường dân sinh và 3,88m chiều rộng phần đất giáp bà Đào Thị B, tổng diện tích là 151,05m².
  2. Ranh giới giữa hai thửa đất số 39A và thửa đất số 19 tờ bản đồ số 15 tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc được giới hạn theo các mốc giới 5,4,3,6 thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 31/01/2024 của Công ty Cổ phần T5 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

    Buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ đoạn tường cao 0,8m; dài 11,79m; rộng 0,1m được giới hạn bởi các điểm 1,2 theo như sơ đồ hiện trạng ngày 31/01/2024 (Có sơ đồ kèm theo)

  3. Về chi phí tố tụng và án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 6.300.000₫ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Xác nhận ông T đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T được miễn toàn bộ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - TAND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS Tam Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thuý Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS - PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 73/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo. giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger