TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/DS-PT Ngày: 14-02-2025 V/v Tranh chấp Đòi tài sản cho vay |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đặng Mai Hoa |
| Các thẩm phán: | Ông Cao Anh Tuấn |
| Bà Trần Thị Diệp Linh | |
| - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: | Bà Trần Thị Phương Hoa - Thẩm tra viên chính. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: | Bà Đặng Thị Sơn Cẩm- Kiểm sát viên. |
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 636/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Đòi tài sản cho vay”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2024/QĐ-PT ngày 30/12/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 33A ngày 15/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T3.
Trụ sở: Số C phố X, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông An Văn T - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Bích N- Nhân viên Công ty.
Theo Giấy ủy quyền ngày 24/9/2024.
(Bà N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Bà Phan Thị Kim C, sinh năm 1968.
Nơi thường trú: P1402, nhà 17T2, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng D
Nơi thường trú: Khu C, Đ, Thành phố B, Bắc Ninh
Địa chỉ liên hệ: Số B, T, phường P, H, Hà Nội
(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 3609 ngày 30/5/2024 tại Văn phòng C1)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C: Luật sư Hà Tuấn V và Luật sư Nguyễn Thị Thu T1 - Công ty L1.
(Ông D có mặt tại phiên tòa; Luật sư V có mặt tại phiên tòa, Luật sư T1 vắng mặt tại phiên tòa).
Do có kháng cáo của bị đơn là bà Phan Thị Kim C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
* Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/6/2021, tại trụ sở Công ty T3, Công ty T3 và bà C đã ký Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT (Sau đây gọi là “Hợp đồng”) với nội dung Công ty T3 sẽ cho bà C vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay là 03 tháng tính từ ngày 30/6/2021 đến ngày 29/9/2021, lãi suất 6%/năm. Ngay sau khi ký kết Hợp đồng, Công ty T3 đã thực hiện chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) cho bà C thông qua Ủy nhiệm chi lập tại Ngân hàng TMCP N1 - V1. Theo Hợp đồng, bà C có trách nhiệm trả đầy đủ, đúng hạn tiền vay nợ gốc và tiền lãi.
Sau khi hết thời hạn vay theo Hợp đồng, do bà C đã không thực hiện đúng cam kết trả tiền nợ gốc và tiền lãi nên ngày 11/11/2021, Công ty T3 đã gửi Công văn số 1111/CV-NL đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tới bà C, tuy nhiên không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía bà C.
Từ đó đến nay, bà C vẫn chưa thực hiện thanh toán bất kỳ khoản nợ gốc hay lãi cho Công ty T3. Công ty T3 cho rằng việc bà C không thanh toán tiền nợ gốc và lãi là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công ty T3. Đến nay, công ty T3 đề nghị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên buộc bà Phan Thị Kim C thanh toán cho Công ty T3 số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); T2 lãi trong thời hạn vay theo mức 6%/năm từ ngày 30/6/2021 đến 29/9/2021 là: 1.000.000.000 đồng x (6% : 365) x 91 ngày = 14.958.904 đồng. Tiền lãi chậm trả lãi từ ngày từ ngày 30/6/2021 đến ngày xét xử 25/9/2024 là: 14.958.904 đồng x (10%/365) x 1183 ngày = 4.848.324 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 29/9/2021 đến ngày 25/9/2024 với mức 150% của lãi suất 6% tương ứng 9%/năm là: 1.000.000.000 x (150 x 6%/365) x 1092 ngày = 269.260.274 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 1.289.067.502 đồng (Một tỷ, hai trăm tám mươi chín triệu, không trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm linh hai đồng).
2
Kể từ sau ngày 25/9/2024, bà C còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả lãi, lãi quá hạn trên số tiền lãi trong hạn và nợ gốc chưa thanh toán cho đến thời điểm thanh toán xong các khoản vay.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phan Thị Kim C có ý kiến trình bày như sau:
Ngày 30/06/2021, Công ty T3 đã chuyển khoản và bà C đã nhận đủ số tiền là 1.000.000.000 VND (Bằng chữ: Một tỷ đồng Việt Nam) bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của bà C mở tại Ngân hàng TMCP K.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST, ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 đối với bà Phan Thị Kim C về việc đòi tiền gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021.
Buộc bà Phan Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH T4 L số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng; T2 lãi trong thời hạn: 14.958.904 đồng; Tiền lãi chậm trả lãi: 4.848.324 đồng; lãi quá hạn: 269.260.274 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán: 1.289.067.502 đồng (Một tỷ, hai trăm tám mươi chín triệu, không trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm linh hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày 25/9/2024, bà Phan Thị Kim C còn phải chịu lãi chậm trả lãi, lãi quá hạn trên số tiền lãi trong hạn chậm trả, số tiền gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong, theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà Phan Thị Kim C là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với lý do là Tòa án cấp sơ thẩm đã không triệu tập bổ sung bà Hoàng Thị Thanh H và Công ty Cổ phần Đ tham gia tố tụng vụ án với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan là trái quy định pháp luật. Đồng thời những nội dung nhận định và quyết định có trong Bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử sơ thẩm là không phù hợp với tình tiết khách quan, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quy định pháp luật. Bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện sửa đổi, bổ sung của Nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bầy đề nghị giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề
3
nghị Hội đồng xét xử xem xét đưa bà Hoàng Thị Thanh H và Công ty R vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do họ là người thụ hưởng cuối cùng đối với khoản tiền Công ty T3 chuyển cho bà C. Đối với yêu cầu tính lãi, phía bị đơn cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật do trong hợp đồng các bên không quy định về lãi quá hạn nên không có căn cứ áp dụng buộc bà C phải trả tiền lãi quá hạn cho Công ty T3. Đối với việc tính lãi chậm trả ngày 30/6/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2024 là không chính xác. Vì theo hợp đồng thời hạn 29/9/2021 nên tính lãi chậm trả phải tính từ ngày 30/9/2021 đến ngày xét xử.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/02/2025 và có ý kiến: đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 70/2024/DS- PT ngày 25/9/2024 củ TAND quận Cầu Giấy, TP Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình thức là hợp lệ.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận về mặt hình thức.
Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có mặt, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử theo quy định.
4
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà C:
[2.1] Xét tính hợp pháp của hợp đồng vay tài sản số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021 được ký kết giữa Bên cho vay: Công ty T3 và Bên vay (Bên B) là bà Phan Thị Kim C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 30/6/2021, Công ty TNHH T3 và bà Phan Thị Kim C đã ký Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT với nội dung Công ty T3 sẽ cho bà C vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay là 03 tháng tính từ ngày 30/6/2021 đến ngày 29/9/2021, lãi suất 6%/năm, mục đích tiêu dùng cá nhân. Công ty T3 đã chuyển cho bà C số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ đồng) bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của bà C mở tại Ngân hàng TMCP K. Các thỏa thuận về thời gian vay, lãi suất cho vay, mục đích vay phù hợp với quy định của pháp luật. Kể từ khi nhận tiền đến nay, bà C không thanh toán khoản tiền gốc, lãi nào. Các bên đương sự đều thừa nhận việc ký Hợp đồng vay tiền, số tiền vay và việc chưa thanh toán gốc, lãi.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hợp đồng vay tiền ký giữa Công ty T3 và bà Phan Thị Kim C là có thật và có hiệu lực thi hành giữa các bên. Các bên xác nhận đến nay bà C chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 buộc bà C phải thanh toán toàn bộ số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi, lãi quá hạn là phù hợp với Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, lãi phạt vi phạm, cần được chấp nhận.
Buộc bà Phan Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3 số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) và các khoản tiền lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm gồm: Tiền lãi trong thời hạn vay theo mức 6%/năm từ ngày 30/6/2021 đến 29/9/2021 là: 1.000.000.000 đồng x (6% : 365)x 91 ngày = 14.958.904 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 29/9/2021 đến ngày 25/9/2024 với mức 150% của lãi suất 6% tương ứng 9%/năm là: 1.000.000.000 x (150 x 6%/365) x 1092 ngày = 269.260.274 đồng.
Đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi: Tòa án cấp sơ thẩm tính tiền lãi chậm trả lãi từ ngày 30/6/2021 đến ngày xét xử 25/9/2024 là chưa chính xác. Theo hợp đồng ngày 29/9/2021 là ngày đến hạn bà C phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nghĩa vụ cho bên Công ty T3. Do đó xác định ngày 30/9/2021 là ngày bà C vi phạm nghĩa
5
vụ thanh toán nên phải tính tiền lãi chậm trả từ ngày 30/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2024: 14.958.904 đồng x (10%/365) x 1091 ngày = 4.471.277 đồng.
Vậy buộc bà C phải thanh toán trả cho Công ty T3 tổng số tiền là: 1.288.690.455 đồng (Một tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, bốn trăm năm mươi lăm đồng).
Về đề nghị của đại diện ủy quyền của bị đơn yêu cầu bổ sung bà Hoàng Thị Thanh H và Công ty R vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021 được ký kết giữa Bên cho vay: Công ty T3 và Bên vay (Bên B) là bà Phan Thị Kim C. Theo điều 1 của Hợp đồng vay tiền thể hiện: Mục đích sử dụng khoản vay của bên B là mục đích cá nhân (cam kết không sử dụng vào mục đích trái đạo đức xã hội, trái quy định của pháp luật). Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào chứng minh Công ty T3 đồng ý để bà Hoàng Thị thanh H và Công ty R có trách nhiệm trả nợ thay cho bà C. Công ty T3 đã thực hiện thỏa thuận chuyển khoản số tiền bà C vay vào tài khoản của bà C theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bà C là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên việc bà C sử dụng khoản tiền vay của Công ty T3 như thế nào là quyền của bà C và hoàn toàn phù hợp với điều 464 BLDS. Việc bị đơn xuất trình văn bản xác nhận việc chuyển tiền giữa bà C cho bà H và giữa bà H cho Công ty R là việc của cá nhân bà C không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, HĐXX thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Như phân tích ở trên, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi là 1.289.067.502 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với lãi suất chậm trả: Bản án sơ thẩm đã tuyên: Kể từ ngày tiếp theo ngày 25/9/2024, bà Phan Thị Kim C còn phải chịu lãi chậm trả lãi, lãi quá hạn trên số tiền lãi trong hạn chậm trả, số tiền gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong, theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL- HĐVT ngày 30/6/2021 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 13 Nghị quyết 01/2019 quy định về quyết định lãi, lãi suất trong bản án quyết định của Tòa án. Do vậy, sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm đối với việc quyết định lãi suất chậm trả như sau: Kể từ ngày tiếp theo ngày 25/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Phan Thị Kim C còn phải chịu khoản tiền
6
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và điều 468 Bộ luật dân sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn cần sửa bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST, ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Quan điểm của Đại diện kiểm sát nhân dân thành phố H một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Về án phí:
- - Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- - Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 147; Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 463, 464, 466, 468, 470 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 70 ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 đối với bà Phan Thị Kim C về việc đòi tiền gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng vay tiền số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021.
Buộc bà Phan Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH T4 L số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng; T2 lãi trong thời hạn: 14.958.904 đồng; Tiền lãi chậm trả lãi: 4.471.277 đồng; Tiền lãi quá hạn: 269.260.274 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán: 1.288.690.455 đồng (Một tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, bốn trăm năm mươi lăm đồng).
7
Kể từ ngày tiếp theo ngày 25/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Phan Thị Kim C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng số 3006/2021/NL-HĐVT ngày 30/6/2021 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2.Về án phí:
2.1. Về án phí sơ thẩm:
Bà Phan Thị Kim C phải nộp 50.660.713 đồng (Năm mươi triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn bẩy trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại Công ty TNHH T3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000576 ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
2.2. Về án phí phúc thẩm:
Bà Phan Thị Kim C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả bà Phan Thị Kim C số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Phan Thị Kim C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046531 ngày 18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mai Hoa |
8
Bản án số 73/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản cho vay
- Số bản án: 73/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản cho vay
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản cho vay
